Hỏi về vốn điều lệ của Công ty Cổ phần

Tại thời điểm đăng ký thành lập doanh nghiệp vốn điều lệ của công ty Cổ phần là tổng giá trị mệnh giá cổ phần các loại đã được đăng ký mua và được ghi trong Điều lệ công ty.

Hỏi: Công ty Cổ phần của tôi có 5 cổ đông sáng lập, số vốn điều lệ dự kiến là 5 tỷ đồng. Đề nghị Luật sư tư vấn, các cổ đông sáng lập có thể góp vốn mua cổ phần tương ứng 60% vốn điều lệ hay không? Vì tôi muốn 40% cổ phần còn lại bán cho các nhà đầu tư khác để công ty huy động vốn sau khi đã đi vào hoạt động ổn định? (Hoàng Sơn)

Luật sư tư vấn pháp luật qua tổng đài (24/7) gọi: 1900 6198
>>>Luật sư tư vấn pháp luật qua tổng đài (24/7) gọi: 1900 6198

Luật gia Lương Thị Anh Thư - Tổ tư vấn Luật Doanh nghiệp Công ty Luật TNHH Everest - trả lời:

Khoản 1 Điều 111 Luật doanh nghiệp 2014 quy định về Vốn của Công ty Cổ phần như sau:

1. Vốn điều lệ công ty cổ phần là tổng giá trị mệnh giá cổ phần đã bán các loại. Vốn điều lệ của công ty cổ phần tại thời điểm đăng ký thành lập doanh nghiệp là tổng giá trị mệnh giá cổ phần các loại đã được đăng ký mua và được ghi trong Điều lệ công ty.

Như vậy, theo quy định trên thì tại thời điểm đăng ký thành lập doanh nghiệp vốn điều lệ của công ty Cổ phần là tổng giá trị mệnh giá cổ phần các loại đã được đăng ký mua và được ghi trong Điều lệ công ty. Trường hợp anh (chị) muốn để lại 40% cổ phần để chào bán cho các nhà đầu tư khác sau này, theo luật thì giá trị của số cổ phần này sẽ không được tính vào vốn điều lệ của công ty. Vốn điều lệ của công ty Cổ phần tại thời điểm đăng ký thành lập doanh nghiệp sẽ chỉ được tính là tổng giá trị số cổ phần mà 5 cổ đông sáng lập đã đăng ký mua.

Khuyến nghị:

  1. Để có ý kiến tư vấn chính xác và cụ thể hơn, Quý vị vui lòng liên hệ với các Luật sư chuyên gia của Công ty Luật TNHH Everest qua Tổng đài tư vấn pháp luật 1900 6198, hoặc E-mail: [email protected]
  2. Nội dung bài tư vấn pháp luật doanh nghiệp mà Công ty Luật TNHH Everest cung cấp, Quý vị chỉ nên xem như nguồn tài liệu tham khảo.
  3. Tại thời điểm quý Vị đọc bài viết này, các điều luật chúng tôi viện dẫn có thể đã hết hiệu lực, hoặc đã được sửa đổi, bổ sung; các thông tin trong tình huống là cá biệt. Do đó, chúng tôi không đảm bảo những thông tin này có thể áp dụng cho mọi trường hợp, mọi đối tượng, ở mọi thời điểm.