Đơn phương chấm dứt hợp đồng ủy quyền trước thời hạn, áp dụng trong trường hợp nào?

Bên ủy quyền có quyền đơn phương chấm dứt thực hiện hợp đồng bất cứ lúc nào, nhưng phải trả thù lao cho bên được ủy quyền tương ứng với công việc mà bên được ủy quyền đã thực hiện hoặc phải báo trước với bên nhận ủy quyền trong khoảng thờl gian hợp lý.

Hỏi: Thời gian qua, tôi có giao kết một số hợp đồng ủy quyền cho người nhà, bạn bè để họ thay tôi thực hiện công việc một số công việc trong thời gian tôi không có mặt ở Việt Nam. Thế nhưng gần đây, tôi phát hiện một số người không thực hiện đúng phạm vi công việc tôi ủy quyền. Tôi muốn đơn phương chấm dứt hợp đồng ủy quyền để tự mình thực hiện hoặc ủy quyền cho người khác. Đề nghị Luật sư tư vấn, tôi có thể đơn phương chấm dứt hợp đồng ủy quyền trước thời hạn trong trường hợp nào, vì những lý do nào? (Đỗ Vũ Nam - Hà Nội)
 Luật sư tư vấn pháp luật qua tổng đài (24/7) gọi: 1900 6198
Luật sư tư vấn pháp luật qua tổng đài (24/7) gọi: 1900 6198

Luật gia Nguyễn Thị Hoài Thương - Phòng Tư vấn doanh nghiệp của Công ty Luật TNHH Everest - trả lời:

Hợp đồng ủy quyền là sự thỏa thuận giữa các bên, theo đó bên được ủy quyền có nghĩa vụ thực hiện công việc nhân danh bên ủy quyền, bên ủy quyền chỉ phải trả thù lao nếu có thỏa thuận hoặc pháp luật có quy định.Trong nhiều trường hợp một trong hai bên nhận ủy quyền và bên ủy quyền không còn mong muốn hoặc hài lòng về các thực hiện công việc của đối phương, họ có quyền đơn phương chấm dứt hợp đồng ủy quyền và yêu cầu các lợi ích hợp pháp khác của mình.

Việc ký Hợp đồng ủy quyền hay Giấy ủy quyền thì đó là những hình thức ủy quyền, về bản chất việc ủy quyền vẫn là việc một người nhân danh và vì lợi ich của người khác thực hiện giao dịch dân sự trong phạm vi đại diện. Việc lựa chọn hình thức ủy quyền như thế nào là do các bên tự thỏa thuận với nhau. Đối với hợp đồng ủy quyền thì bên ủy quyền và bên nhận ủy quyền phải cùng nhau ký vào hợp đồng. Còn đối với giấy ủy quyền thì bên nhận ủy quyền chỉ cần ký tên, đóng dấu.

Bộ luật Dân sự năm 2015 quy định về việc đơn phương hủy hợp đồng ủy quyền là ý chí chủ quan của người ủy quyền mà không cần xem lý do, cụ thể:"- Trường hợp ủy quyền có thù lao, bên ủy quyền có quyền đơn phương chấm dứt thực hiện hợp đồng bất cứ lúc nào, nhưng phải trả thù lao cho bên được ủy quyền tương ứng với công việc mà bên được ủy quyền đã thực hiện và bồi thường thiệt hại; nếu ủy quyền không có thù lao thì bên ủy quyền có thể chấm dứt thực hiện hợp đồng bất cứ lúc nào, nhưng phải báo trước cho bên được ủy quyền một thời gian hợp lý" (khoản 1, Điều 569)

Trên thực tiễn, hợp đồng ủy quyền nếu được công chứng (dù có trường hợp không bắt buộc) thì tính giá trị pháp lý càng cao. Bởi lẽ, ngoài việc hợp đồng ủy quyền có sự công nhận và xác thực của hai bên thì còn có sự tham gia của bên thứ ba.

Do vậy, khi hủy bỏ hay chấm dứt hợp đồng ủy quyền thì vấn đề hợp đồng ủy quyền có công chứng thì theo quy định của Luật công chứng năm 2014 quy định về việc hủy bỏ hợp đồng như sau:"Việc công chứng sửa đổi, bổ sung, hủy bỏ hợp đồng, giao dịch đã được công chứng chỉ được thực hiện khi có sự thỏa thuận, cam kết bằng văn bản của tất cả những người đã tham gia hợp đồng, giao dịch đó" (khoản 1, Điều 51).

Về mặt pháp lý mặc dù việc hủy bỏ hợp đồng là hành vi pháp lý đơn phương, không cần có sự đồng ý của các bên và không cần có thủ tục công chứng văn bản hủy hoặc chấm dứt đó. Tuy nhiên, như đã nêu ở trên thì thủ tục này lại bắt buộc trong một số trường hợp. Điều này đã dẫn đến việc hạn chế quyền đơn phương hủy bỏ hợp đồng ủy quyền.

Tóm lại, anh (chị) có thể đơn phương hủy bỏ hợp đồng ủy quyền, nhưng lưu ý rằng anh (chị) phải phải đáp ứng một số điều kiện theo quy định của pháp luật chúng tôi đã viện dẫn ở trên.

Khuyến nghị:
  1. Để có ý kiến tư vấn chính xác và cụ thể hơn, Quý vị vui lòng liên hệ với các Luật sư chuyên gia của Công ty Luật TNHH Everest qua Tổng đài tư vấn pháp luật 1900 6198, hoặc E-mail: [email protected]
  2. Nội dung bài tư vấn pháp luật hợp đồng mà Công ty Luật TNHH Everest cung cấp, Quý vị chỉ nên xem như nguồn tài liệu tham khảo.
  3. Tại thời điểm quý Vị đọc bài viết này, các điều luật chúng tôi viện dẫn có thể đã hết hiệu lực, hoặc đã được sửa đổi, bổ sung; các thông tin trong tình huống là cá biệt. Do đó, chúng tôi không đảm bảo những thông tin này có thể áp dụng cho mọi trường hợp, mọi đối tượng, ở mọi thời điểm.