"Đất" là tài sản riêng, nhà là tài sản chung, chia thế nào khi ly hôn?

Mảnh đất và nhà xây lên là sự trộn lẫn giữa tài sản chung vợ chồng và tài sản riêng, vì không thể tách rời nên sẽ giải quyết theo nguyên tắc giữ nguyên hiện trạng nhà và đất ở.

Hỏi:Trước khi lấy vợ, bố mẹ tôi có cho riêng tôi một mảnh đất. Sau khi cưới vợ, chúng tôi xây dựng trên phần đất đó một ngôi nhà. Hiện nay vợ chồng tôi đã không còn tình cảm và chuẩn bị ly hôn. Xin Luật sư cho biết, phần đất và nhà đó sẽ được chia như thế nào ? (Nguyễn Lân - Quảng Ninh)
Luật sư tư vấn pháp luật qua tổng đài (24/7) gọi: 1900 6198
Luật sư tư vấn pháp luật qua tổng đài (24/7) gọi: 1900 6198

Luật gia Nguyễn Văn Anh - Tổ tư vấn Luật HN&GĐ của Công ty Luật TNHH Everest - trả lời:

Khoản 4 Điều 59 Luật Hôn nhân gia đình quy định về nguyên tắc giải quyết tài sản của vợ chồng khi ly hôn như sau:

“4. Tài sản riêng của vợ, chồng thuộc quyền sở hữu của người đó, trừ trường hợp tài sản riêng đã nhập vào tài sản chung theo quy định của Luật này.
Trong trường hợp có sự sáp nhập, trộn lẫn giữa tài sản riêng với tài sản chung mà vợ, chồng có yêu cầu về chia tài sản thì được thanh toán phần giá trị tài sản của mình đóng góp vào khối tài sản đó, trừ trường hợp vợ chồng có thỏa thuận khác”.

Như vậy, mảnh đất và nhà xây lên là sự trộn lẫn giữa tài sản chung vợ chồng và tài sản riêng của anh, vì không thể tách rời nên sẽ giải quyết theo nguyên tắc giữ nguyên hiện trạng nhà và đất ở. Trường hợp này, anh sẽ ưu tiên được sở hữu ngôi nhà gắn liền trên đất và có trách nhiệm trả cho vợ anh một khoản, phù hợp với công sức đóng góp vào ngôi nhà, có tính đến hoàn cảnh và các yếu tố năng lực tài chính, sức khoẻ của vợ anh.

Khuyến nghị:
  1. Để có ý kiến tư vấn chính xác và cụ thể hơn, Quý vị vui lòng liên hệ với các Luật sư chuyên gia của Công ty Luật TNHH Everest qua Tổng đài tư vấn pháp luật 1900 6198, hoặc E-mail: [email protected]
  2. Nội dung bài tư vấn pháp luật hôn nhân và gia đình mà Công ty Luật TNHH Everest cung cấp, Quý vị chỉ nên xem như nguồn tài liệu tham khảo.
  3. Tại thời điểm quý Vị đọc bài viết này, các điều luật chúng tôi viện dẫn có thể đã hết hiệu lực, hoặc đã được sửa đổi, bổ sung; các thông tin trong tình huống là cá biệt. Do đó, chúng tôi không đảm bảo những thông tin này có thể áp dụng cho mọi trường hợp, mọi đối tượng, ở mọi thời điểm.