Công ty có quyền sa thải khi nhân viên nữ đang mang thai không?

Không được xử lý kỷ luật lao động đối với người lao động đang trong thời gian sau đây: Lao động nữ có thai, nghỉ thai sản; người lao động nuôi con nhỏ dưới 12 tháng tuổi.

Hỏi: Em đang làm việc cho công ty Hàn Quốc thời gian hết hợp đồng của em là 2/2017 và hiện tại em đang có thai 20 tuần. Tuần trước em có nghỉ ốm 5 hôm có giấy c65 của bệnh viện nhưng do em nghỉ nên không viết được giấy xin phép (form của công ty) nên hôm nay khi đến công ty em mới viết giấy xin nghỉ thì được công ty thông báo do em nộp giấy muộn nên không được chấp nhận nghĩa là 5 ngày em nghỉ là nghỉ không lý do và công ty sẽ sa thải em. Đề nghị Luật sư tư vấn, công ty làm như vậy có đúng không? (Lê Sơn - Hà Nội)

Luật sư tư vấn pháp luật qua tổng đài (24/7) gọi: 1900 6218.
Luật sư tư vấn pháp luật qua tổng đài (24/7) gọi: 1900 6198.

Luật gia Lưu Thị Ngọc Anh - Tổ tư vấn pháp luật lao động Công ty Luật TNHH Everest - trả lời:

Theo quy định tại Điều 126 Bộ luật Lao động về áp dụng hình thức kỷ luật sa thải:

Điều 126. Áp dụng hình thức xử lý kỷ luật sa thải

Hình thức xử lý kỷ luật sa thải được người sử dụng lao động áp dụng trong những trường hợp sau đây:

1. Người lao động có hành vi trộm cắp, tham ô, đánh bạc, cố ý gây thương tích, sử dụng ma tuý trong phạm vi nơi làm việc, tiết lộ bí mật kinh doanh, bí mật công nghệ, xâm phạm quyền sở hữu trí tuệ của người sử dụng lao động, có hành vi gây thiệt hại nghiêm trọng hoặc đe doạ gây thiệt hại đặc biệt nghiêm trọng về tài sản, lợi ích của người sử dụng lao động;

2. Người lao động bị xử lý kỷ luật kéo dài thời hạn nâng lương mà tái phạm trong thời gian chưa xoá kỷ luật hoặc bị xử lý kỷ luật cách chức mà tái phạm.

Tái phạm là trường hợp người lao động lặp lại hành vi vi phạm đã bị xử lý kỷ luật mà chưa được xóa kỷ luật theo quy định tại Điều 127 của Bộ luật này;

3. Người lao động tự ý bỏ việc 05 ngày cộng dồn trong 01 tháng hoặc 20 ngày cộng dồn trong 01 năm mà không có lý do chính đáng.

Các trường hợp được coi là có lý do chính đáng bao gồm: thiên tai, hoả hoạn, bản thân, thân nhân bị ốm có xác nhận của cơ sở khám bệnh, chữa bệnh có thẩm quyền và các trường hợp khác được quy định trong nội quy lao động."

Theo thông tin chị cung cấp thì chị đã nghỉ 5 ngày trong 01 tháng nên công ty có quyết định sa thải chị, tuy nhiên chị cũng nói chị nghỉ ốm và có giấy xác nhận của bệnh viện như vậy trường hợp của chị được coi là có lý do chính đáng do bản thân bị ốm có xác nhận của cơ sở khám bệnh.

Vì vậy, trong trường hợp này công ty sa thải chị là trái pháp luật.

Bên cạnh đó, chị đang mang thai theo quy định tại Khoản 4 Điều 123 Bộ luật Lao động:

Điều 123. Nguyên tắc, trình tự xử lý kỷ luật lao động

4. Không được xử lý kỷ luật lao động đối với người lao động đang trong thời gian sau đây:

a) Nghỉ ốm đau, điều dưỡng; nghỉ việc được sự đồng ý của người sử dụng lao động;

b) Đang bị tạm giữ, tạm giam;

c) Đang chờ kết quả của cơ quan có thẩm quyền điều tra xác minh và kết luận đối với hành vi vi phạm được quy định tại khoản 1 Điều 126 của Bộ luật này;

d) Lao động nữ có thai, nghỉ thai sản; người lao động nuôi con nhỏ dưới 12 tháng tuổi.

Như vậy, theo quy định tại Điểm d Khoản 4 Điều trên thì công ty không được thực hiện biện pháp xử lý kỷ luật khi chị đang mang thai.

Từ những phân tích trên có thể xác định công ty không có quyền sa thải chị nên theo quy định tại điều 42 Bộ luật Lao động về nghĩa vụ của người sử dụng lao động khi đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động trái pháp luật thì:

Điều 42. Nghĩa vụ của người sử dụng lao động khi đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động trái pháp luật

1. Phải nhận người lao động trở lại làm việc theo hợp đồng lao động đã giao kết và phải trả tiền lương, bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế trong những ngày người lao động không được làm việc cộng với ít nhất 02 tháng tiền lương theo hợp đồng lao động.

2. Trường hợp người lao động không muốn tiếp tục làm việc, thì ngoài khoản tiền bồi thường quy định tại khoản 1 Điều này người sử dụng lao động phải trả trợ cấp thôi việc theo quy định tại Điều 48 của Bộ luật này.

3. Trường hợp người sử dụng lao động không muốn nhận lại người lao động và người lao động đồng ý, thì ngoài khoản tiền bồi thường quy định tại khoản 1 Điều này và trợ cấp thôi việc theo quy định tại Điều 48 của Bộ luật này, hai bên thỏa thuận khoản tiền bồi thường thêm nhưng ít nhất phải bằng 02 tháng tiền lương theo hợp đồng lao động để chấm dứt hợp đồng lao động.

4. Trường hợp không còn vị trí, công việc đã giao kết trong hợp đồng lao động mà người lao động vẫn muốn làm việc thì ngoài khoản tiền bồi thường quy định tại khoản 1 Điều này, hai bên thương lượng để sửa đổi, bổ sung hợp đồng lao động.

5. Trường hợp vi phạm quy định về thời hạn báo trước thì phải bồi thường cho người lao động một khoản tiền tương ứng với tiền lương của người lao động trong những ngày không báo trước”.

Theo quy định này thì công ty phải nhận chị quay lại làm và bồi thường ít nhất bằng 2 tháng tiền lương, nếu chị không muốn quay lại làm thì ngoài tiền bồi thường trên còn được hưởng trợ cấp thôi việc. Trường hợp công ty không muốn nhận lại người lao động và được người lao động đồng ý thì ngoài tiền bồi thường cùng trợ cấp trên còn được bồi thường thêm tối thiểu là 2 tháng tiền lương.

Vì vậy, để đảm bảo được quyền lợi hợp pháp của mình thì chị có thể gửi đơn khiếu nại lên người có thẩm quyền tại công ty hoặc gửi đơn lên phòng Lao động thương binh và xã hội để được giải quyết theo quy định của pháp luật.

Khuyến nghị:

  1. Để có ý kiến tư vấn chính xác và cụ thể hơn, Quý vị vui lòng liên hệ với các Luật sư chuyên gia của Công ty Luật TNHH Everest qua Tổng đài tư vấn pháp luật 1900 6198, hoặc E-mail: [email protected]
  2. Nội dung bài tư vấn pháp luật lao động mà Công ty Luật TNHH Everest cung cấp, Quý vị chỉ nên xem như nguồn tài liệu tham khảo.
  3. Các điều luật chúng tôi viện dẫn trong bài viết có thể đã hết hiệu lực hoặc đã được sửa đổi, bổ sung. Các thông tin trong tình huống là cá biệt. Do đó, Chúng tôi không đảm bảo những thông tin này có thể áp dụng cho mọi trường hợp, mọi đối tượng, ở mọi thời điểm.