Có cần xin chữ ký của chị dâu khi thế chấp sổ đỏ của gia đình?

Đất được cấp cho hộ gia đình thì thuộc quyền sở hữu chung của tất cả mọi thành viên trong hộ gia đình. Nếu chị dâu anh (chị) là người có tên trong sổ hộ khẩu của gia đình vào thời điểm giao đất thì phải có chữ ký của người đó về việc đồng ý thế chấp sổ đỏ.

Hỏi:Vợ chồng tôi đang chuẩn bị cầm sổ đỏ của bố mẹ để vay vốn ngân hàng nhưng trên sổ đỏ lại ghi là: Hộ ông (tên bố chồng tôi), nên Văn phòng công chứng yêu cầu toàn bộ thành viên trong gia đình phải ký xác nhận thì mới đồng ý cho vay.Gia đình chồng tôi có 4 chị tôi: chị gái đã lấy chồng và tách khẩu, anh trai thứ 3 ( trên chồng tôi) cũng đã tách khẩu, hiện tại trong sổ hộ khẩuchỉ có tên của bố mẹ , vợ chồng tôi, anh trai thứ 2 (đã ly thân). Đề nghị Luật sư tư vấn, nếu đi kýxác nhận thì ngoài bố mẹ và vợ chồng tôi ra, còn có những ai? Chị dâu tôi đã ly thân với anh trai có cần xin chữ ký xác nhận của chị ấy không? (Nguyễn Thanh Xuân - Tuyên Quang)

>>>Luật sư tư vấn pháp luật qua tổng đài (24/7) gọi: 1900 6198
>>>Luật sư tư vấn pháp luật qua tổng đài (24/7) gọi: 1900 6198

Luật gia Trần Thu Trang - Tổ tư vấn pháp luật bất động sản của Công ty Luật TNHH Everest - trả lời:

Định đoạt tài sản chung của hộ gia đình,Bộ luật Dân sự 2005 quy định: “Tài sản chung của hộ gia đình gồm quyền sử dụng đất, quyền sử dụng rừng, rừng trồng của hộ gia đình, tài sản do các thành viên đóng góp, cùng nhau tạo lập nên hoặc được tặng cho chung, được thừa kế chung và các tài sản khác mà các thành viên thỏa thuận là tài sản chung của hộ”.

Điều 107Bộ luật Dân sự quy định “Chủ hộ là đại diện của hộ gia đình trong các giao dịch dân sự vì lợi ích chung của hộ. Cha, mẹ hoặc một thành viên khác đã thành niên có thể là chủ hộ.”

Khoản 29 Điều 3 Luật Đất đai 2013 quy định: “Hộ gia đình sử dụng đất là những người có quan hệ hôn nhân, huyết thống, nuôi dưỡng theo quy định của pháp luật về hôn nhân và gia đình, đang sống chung và có quyền sử dụng đất chung tại thời điểm được Nhà nước giao đất, cho thuê đất, công nhận quyền sử dụng đất; nhận chuyển quyền sử dụng đất”.


Điều 109Bộ luật Dân sự 2005 quy định:
“1. Các thành viên của hộ gia đình chiếm hữu và sử dụng tài sản chung của hộ theo phương thức thoả thuận.
2. Việc định đoạt tài sản là tư liệu sản xuất, tài sản chung có giá trị lớn của hộ gia đình phải được các thành viên từ đủ 15 tuổi trở lên đồng ý; đối với các loại tài sản chung khác phải được đa số thành viên từ đủ 15 tuổi trở lên đồng ý”.


Như vậy, đất được cấp cho hộ gia đình thì thuộc quyền sở hữu chung của tất cả mọi thành viên trong hộ gia đình. Việc xác định những người có quyền đối với quyền sử dụng đất cấp cho hộ gia đình được căn cứ vào sổ hộ khẩu tại thời điểm được Nhà nước giao đất, cho thuê đất, công nhận quyền sử dụng đất; nhận chuyển quyền sử dụng đất.Ngoài ra trong một số trường hợp, những người đã là thành viên trong gia đình khi phát sinh sự kiện kết hôn, sinh đẻ nhưng họ chưa có tên trong sổ hộ khẩu thì việc xác định quyền sử dụng đất còn căn cứ vào thời điểm phát sinh những sự kiện nêu trên có trước thời điểm nhà nước giao đất.Việc định đoạt quyền sử dụng đất là tài sản của hộ gia đình phải được các thành viên từ đủ 15 tuổi trở lên đồng ý.

Như vậy trong trường hợp củagia đình anh (chị) căn cứ để xác định những người có quyền đối với quyền sử dụng đất cấp cho gia đình nhà anh (chị) là những người có tên trong sổ hộ khẩu của gia đình vào thời điểm nhà nước giao đất.

Pháp luật hôn nhân và gia đình Việt Nam hiện nay chỉ công nhận quan hệ hôn nhân giữa vợ chồng chấm dứt khi có quyết định bản án của tòa án cho phép vợ, chồng ly hôn. Như vậy mặc dù chị dâu anh (chị) không có tên trong sổ hộ khẩu và anh chị anh (chị) đang ly thân thì quan hệ hôn nhân của anh chị anh (chị) vẫn còn tồn tại.

Căn cứ để xác định những người có quyền đối với quyền sử dụng đất cấp cho gia đình nhà anh (chị) là những người có tên trong sổ hộ khẩu của gia đình vào thời điểm nhà nước giao đất. Ngoài ra trong một số trường hợp, những người đã là thành viên trong gia đình khi phát sinh sự kiện kết hôn, sinh đẻ nhưng họ chưa có tên trong sổ hộ khẩu thì việc xác định quyền sử dụng đất còn căn cứ vào thời điểm phát sinh những sự kiện nêu trên có trước thời điểm nhà nước giao đất. Như vậy mặc dù chị dâu anh (chị) không có tên trong sổ hộ khẩu hiện tại nhưng Công chứng viên cho rằng vào thời điểm nhà nước giao đất giữa anh chị anh (chị) đã phát sinh quan hệ hôn nhân trước đó nên chị dâu anh (chị) cũng có quyền đối với mảnh đất thuộc tài sản chung của hộ gia đình nên cần chữ kýcủa chị dâu anh (chị).

Việc định đoạt quyền sử dụng đất là tài sản của hộ gia đình phải được các thành viên từ đủ 15 tuổi trở lên đồng ý. Như vậy việc gia đình anh (chị) thế chấp mà không có sự đồng ý của chị dâu anh (chị) chỉ được diễn ra khi

-Trường hợp 1:Gia đình anh (chị) chứng minh được vào thời điểm nhà nước giao đất giữa anh trai anh (chị) và chị dâu anh (chị) chưa phát sinh quan hệ hôn nhân ( thời điểm đăng kí kết hôn). Như vậy chị dâu anh (chị) không có quyền sử dụng đối với mảnh đất và không cần phải sự đồng ý của chị dâu anh (chị).

-Trường hợp 2: Trong trường hợp chị dâu của anh (chị) có quyền sử dụng đối với mảnh đất khi quan hệ hôn nhân của anh chị anh (chị) phát sinh trước thời điểm nhà nước giao đất:

+ Nếu chị dâu anh (chị) có để lại giấy ủy quyền cho người khác đối với tài sản của mình thì chỉ cần người đó mang theo giấy ủy quyền đã chứng thực đến văn phòng công chứng và xác nhận đại diện cho chị dâu anh (chị) là được.

Khuyến nghị:

  1. Để có ý kiến tư vấn chính xác và cụ thể hơn, Quý vị vui lòng liên hệ với các Luật sư chuyên gia của Công ty Luật TNHH Everest qua Tổng đài tư vấn pháp luật 1900 6198, hoặc E-mail: [email protected]
  2. Nội dung bài tư vấn pháp luật bất động sản mà Công ty Luật TNHH Everest cung cấp, Quý vị chỉ nên xem như nguồn tài liệu tham khảo.
  3. Các điều luật chúng tôi viện dẫn trong bài viết có thể đã hết hiệu lực hoặc đã được sửa đổi, bổ sung. Các thông tin trong tình huống là cá biệt. Do đó, Chúng tôi không đảm bảo những thông tin này có thể áp dụng cho mọi trường hợp, mọi đối tượng, ở mọi thời điểm.