Các quyền cơ bản của doanh nghiệp

Mọi doanh nghiệp đều có quyền tự do kinh doanh, có quyền bình đẳng trong hoạt động thương mại. Khoản 1 Điều 7 Luật Doanh nghiệp quy định: doanh nghiệp có quyền “Tự do kinh doanh trong những ngành, nghề mà luật không cấm”.

Luật Doanh nghiệp năm 2014 tiếp cận quyền bình đẳng của doanh nghiệp (thương nhân) như là một sự bảo đảm của Nhà nước đối với doanh nghiệp (thương nhân): “Nhà nước. bảo đảm bình đẳng trước pháp luật của các doanh nghiệp không phân biệt hình thức sở hữu và thành phần kinh tế”

Luật sư tư vấn pháp luật thương mại - Tổng đài tư vấn (24/7): 1900 6198
Luật sư tư vấn pháp luật thương mại - Tổng đài tư vấn (24/7): 1900 6198

Quyền tự do kinh doanh

Cùng với việc ghi nhận về quyền con người, quyền và nghĩa vụ cơ bản của công dân trong chương 2 Hiến pháp năm 2013 (từ Điều 14 đến Điều 49), Điều 33 Hiến pháp ghi nhận: “Mọi người có quyền tự do kinh doanh trong những ngành nghề mà pháp luật không cấm”.

Cụ thể hoá Hiến pháp, khoản 1 Điều 7 Luật Doanh nghiệp quy định: doanh nghiệp có quyền “Tự do kinh doanh trong những ngành, nghề mà luật không cấm”.

Bên cạnh đó, khoản 2 Điều 6 Luật Thương mại năm 2005 cũng quy định: “Thương nhân có quyền hoạt động thương mại trong các ngành nghề, tại các địa bàn, dưới các hình thức và theo các phương thức mà pháp luật không cấm”.

Dưới góc độ quyền chủ thể, quyền tự do kinh doanh của thương nhân được hiểu là thương nhân được thực hiện các hoạt động thương mại mà pháp luật không cấm.

Thương nhân có quyền tự do kinh doanh, nhưng không có nghĩa là tự do kinh doanh vô chính phủ, vô tổ chức mà phải kinh doanh trong khuôn khổ của pháp luật, tôn trọng quyền tự do kinh doanh của thương nhân khác.

Tự do kinh doanh trong khuôn khổ của pháp luật có nghĩa là ngoài việc chỉ được thực hiện các hoạt động kinh doanh mà pháp luật không cấm, khi thực hiện quyền tự do kinh doanh, thương nhân phải tuân thủ những điều kiện pháp luật quy định hoặc phải có một số nghĩa vụ tương ứng.

Nội dung của quyền tự do kinh doanh của thương nhân gồm:

- Tự do thành lập doanh nghiệp;

- Tự do lựa chọn ngành nghề và quy kinh doanh;

- Tự do lựa chọn khách hàng và trực tiếp giao dịch với khách hàng;

- Tự do lựa chọn lao động theo nhu cầu kinh doanh;

- Tự do lựa chọn hình thức, cách thức giải quyết tranh chấp;

- Các quyền tự do khác mà pháp luật không cấm.

Quyền bình đẳng trong hoạt động thương mại của thương nhân

Tương tự quyền tự do kinh doanh, quyền bình đẳng của công dân nói chung và của thương nhân nói riêng được pháp luật hiện hành ghi nhận trong Hiến pháp cũng như các văn bản luật. Cụ thể:

(i) Điều 16 Hiến pháp năm 2013 ghi nhận: Mọi người đều bình đẳng trước pháp luật; không ai bị phân biệt đối xử trong đời sống chính trị, dân sự, kinh tế, văn hoá, xã hội;

(ii) Điều 10 Luật Thương mại năm 2005 quy định: “Thương nhân thuộc mọi thànhphần kinh tế bình đẳng trước pháp luật trong hoạt động thương mại”;

(iii) Luật Doanh nghiệp năm 2014 tiếp cận quyền bình đẳng của doanh nghiệp (thương nhân) như là một sự bảo đảm của Nhà nước đối với doanh nghiệp (thương nhân): “Nhà nước. bảo đảm bình đẳng trước pháp luật của các doanh nghiệp không phân biệt hình thức sở hữu và thành phần kinh tế”.

Theo tinh thần của các quy định pháp luật về quyền bình đẳng của thương nhân, để đảm bảo cho thương nhân thực hiện quyền tự do kinh doanh, Nhà nước thừa nhận sự bình đẳng giữa các thương nhân (doanh nghiệp) đồng thời bảo đảm quyền bình đẳng giữa các thương nhân (doanh nghiệp).

Quyền bình đẳng trước pháp luật được hiểu là các thương nhân (doanh nghiệp) thuộc tất cả các thành phần kinh tế, trong cùng điều kiện, hoàn cảnh như nhau, có quyền và nghĩa vụ như nhau.

Quyền bình đẳng giữa các thương nhân còn có thể được xem xét trong một mối quan hệ hợp đồng song vụ cụ thể. Xét trong một mối quan hệ hợp đồng song vụ cụ thể, quyền bình đẳng của các thương nhân tham gia quan hệ đó được hiểu là quyền của thương nhân này sẽ được đảm bảo bằng nghĩa vụ tương ứng của phía bên kia và ngược lại.

Nội dung quyền bình đẳng giữa các thương nhân (doanh nghiệp) là phạm vi hoạt động của thương nhân cần được đối xử bình đẳng. Nội dung này được thể chế hoá trong các quy định pháp luật và khi nội dung của quyền này được quy định bằng pháp luật sẽ tạo cơ sở cho các chủ thể xã hội ứng xử thống nhất. Là một quyền chủ thể của thương nhân (doanh nghiệp) quyền bình đẳng giữa các thương nhân (doanh nghiệp) đòi hỏi bình đẳng trong suốt thời gian tồn tại của nó, từ khi thành lập, đi vào hoạt động thương mại (kinh doanh) khi giải thể, phá sản doanh nghiệp/thương nhân.

a) Quyền bình đẳng của thương nhân (doanh nghiệp) trong đăng kí thành lập doanh nghiệp

Sự bình đẳng trước pháp luật giữa thương nhân (doanh nghiệp) với nhau trước hết thể hiện ngay trong việc đăng kí doanh nghiệp. Các thương nhân (doanh nghiệp) muốn thành lập đều phải theo những điều kiện chung, những thủ tục pháp luật quy định về việc thành lập và đăng kí doanh nghiệp.

b) Quyền bình đẳng giữa các thương nhân (doanh nghiệp) trong hoạt động kinh doanh

Quyền bình đẳng giữa các thương nhân (doanh nghiệp)trong hoạt động kinh doanh là bình đẳng trong tiếp cận các nguồn lực, trong kí kết hợp đồng lao động, hợp đồng thương mại, trong cạnh tranh và giải quyết các tranh chấp của doanh nghiệp, trong thực hiện các nghĩa vụ thuế, đền bù thiệt hại và thực hiện trách nhiệm xã hội.

Các doanh nghiệp có quyền bình đẳng trước pháp luật còn có nghĩa là các doanh nghiệp đều phải có nghĩa vụ đóng góp vào ngân sách nhà nước thông qua việc đóng thuế.

c) Quyền bình đẳng của thương nhân (doanh nghiệp) trong việc giải thể, phá sản

Bình đẳng trong giải thể, phá sản doanh nghiệp là mọi doanh nghiệp, không phân biệt sở hữu hay hình thức tổ chức đều có quyền yêu cầu Toà án tuyên bố phá sản khi đủ điều kiện, hay đăng kí giải thể doanh nghiệp một cách tự nguyện hoặc đều bị buộc phải thực hiện giải thể, phá sản doanh nghiệp theo quy định của pháp luật.

Bài viết được thực hiện bởi Luật gia Nguyễn Thu Trang - Công ty Luật TNHH Everest

Khuyến nghị của Công ty Luật TNHH Everest:

1. Bài viết nêu trên được luật sư, chuyên gia của Công ty Luật TNHH Everest thực hiện nhằm mục đích nghiên cứu khoa học hoặc phổ biến kiến thức pháp luật, hoàn toàn không nhằm mục đích thương mại.

2. Bài viết có sử dụng những kiến thức hoặc ý kiến của các chuyên gia được trích dẫn từ nguồn đáng tin cậy. Tại thời điểm trích dẫn những nội dung này, chúng tôi đồng ý với quan điểm của tác giả. Tuy nhiên, quý vị chỉ nên coi đây là những thông tin tham khảo, bởi nó có thể chỉ là quan điểm cá nhân người viết.

3. Trường hợp cần giải đáp thắc mắc về vấn đề có liên quan, hoặc cần ý kiến pháp lý cho vụ việc cụ thể, Quý vị vui lòng liên hệ với chuyên gia, luật sư của Công ty Luật TNHH Everest qua Tổng đài tư vấn pháp luật:1900 6198, E-mail: [email protected].