Bị chồng ngược đãi, vợ có quyền đơn phương ly hôn

Tôi và chồng tôi kết hôn được 5 năm và có một đứa con trai 4 tuổi, Thời gian đầu, chúng tôi sống rất hạnh phúc, sau xảy ra nhiều mâu thuẫn, chồng tôi thường đánh đập, ngược đãi vợ con. Vậy tôi có thể làm đơn đơn phương ly hôn không?

Hỏi: Chồng tôi làm xây dựng, lúc đầu lấy nhau anh vẫn làm gần nhà, cuộc sống vợ̣ chồngg rất hạnh phúc. Đến năm 2014 anh bắt đầu phải đi làm công trình xa, cuộc sống vợ chồngng bắt đầu xảy ra mâu thuẫn, anh bắt đầu ghen tuông vô cớ, kiểm soát giờ giấc, điện thoại, thậm chí không cho tôi về nhà bố mẹ đẻ chơi. Đến năm 2015 mâu thuẫn gia đình ngày càng nghiêm trọng, mỗi lần anh về nhà là anh đánh đập tôi trước mặt con trai tôi, nó mới được 4 tuôi nên nhìn thấy cảnh bố đánh mẹ nó rất hoảng sợ, điều này sảy ra rất nhiều lần. Tuy nhiên thì tôi vẫn chấp nhận bỏ qua để con tôi có một gia đình đầy đủ bố và mẹ, không dừng lại anh lấn tới có lần anh đánh và chửi xúc phạm tôi trước mặt bố mẹ chồng. Do không chịu được nữa tôi đã chuyển về nhà bố mẹ đẻ và giờ tôi muốn ly hôn vì nghĩ tiếp tục sống với nhau cũng không hạnh phúc nhưng chồng tôi không chịu ly hôn. Vậy tôi có thể làm đơn đơn phương ly hôn được không?

Luật sư tư vấn pháp luật qua tổng đài (24/7) gọi: 1900 6198
Luật sư tư vấn pháp luật qua tổng đài (24/7) gọi: 1900 6198

Luật giaNguyễnThị Yến – Công ty Luật TNHH Everest – trả lời:

Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014 quy định về ly hôn theo yêu cầu của một bên như sau:

"1. Khi vợ hoặc chồng yêu cầu ly hôn mà hòa giải tại Tòa án không thành thì Tòa án giải quyết cho ly hôn nếu có căn cứ về việc vợ, chồng có hành vi bạo lực gia đình hoặc vi phạm nghiêm trọng quyền, nghĩa vụ của vợ, chồng làm cho hôn nhân lâm vào tình trạng trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích của hôn nhân không đạt được".

Như vậy theo quy định tại khoản 1 Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014 thì cho phép vợ hoặc chồng đơn phương ly hôn. Khi bạn đơn phương ly hôn thì Tòa án giải quyết cho ly hôn căn cứ theo tình trạng hôn nhân của vợ chồng bạn như sau: “hôn nhân lâm vào tình trạng trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích của hôn nhân không đạt được”.

Để hiểu rõ hơn điều này, Nghị quyết số 02/2000/NQ-HĐTP của Hội đồng thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao hướng dẫn áp dụng quy định của Luật HN&GĐ 2000 quy định như sau:

"a.1. Được coi là tình trạng của vợ chồng trầm trọng khi:

- Vợ, chồng không thương yêu, quý trọng, chăm sóc, giúp đỡ nhau như người nào chỉ biết bổn phận người đó, bỏ mặc người vợ hoặc người chồng muốn sống ra sao thì sống, đã được bà con thân thích của họ hoặc cơ quan, tổ chức, nhắc nhở, hoà giải nhiều lần.

- Vợ hoặc chồng luôn có hành vi ngược đãi, hành hạ nhau, như thường xuyên đánh đập, hoặc có hành vi khác xúc phạm đến danh dự, nhân phẩm và uy tín của nhau, đã được bà con thân thích của họ hoặc cơ quan, tổ chức, đoàn thể nhắc nhở, hoà giải nhiều lần.

- Vợ chồng không chung thuỷ với nhau như có quan hệ ngoại tình, đã được người vợ hoặc người chồng hoặc bà con thân thích của họ hoặc cơ quan, tổ chức, nhắc nhở, khuyên bảo nhưng vẫn tiếp tục có quan hệ ngoại tình;

a.2. Để có cơ sở nhận định đời sống chung của vợ chồng không thể kéo dài được, thì phải căn cứ vào tình trạng hiện tại của vợ chồng đã đến mức trầm trọng như hướng dẫn tại điểm a.1 mục 8 này. Nếu thực tế cho thấy đã được nhắc nhở, hoà giải nhiều lần, nhưng vẫn tiếp tục có quan hệ ngoại tình hoặc vẫn tiếp tục sống ly thân, bỏ mặc nhau hoặc vẫn tiếp tục có hành vi ngược đãi hành hạ, xúc phạm nhau, thì có căn cứ để nhận định rằng đời sống chung của vợ chồng không thể kéo dài được.

a.3. Mục đích của hôn nhân không đạt được là không có tình nghĩa vợ chồng; không bình đẳng về nghĩa vụ và quyền giữa vợ, chồng; không tôn trọng danh dự, nhân phẩm, uy tín của vợ, chồng; không tôn trọng quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo của vợ, chồng; không giúp đỡ, tạo điều kiện cho nhau phát triển mọi mặt".

Như vậy, khi đơn phương ly hôn bạn phải chứng minh được về việc tình trạng hôn nhân của vợ chồng bạn không hạnh phúc và đời sống chung không thể kéo dài được nữa.

Khuyến nghị:

  1. Để có ý kiến tư vấn chính xác và cụ thể hơn, Quý vị vui lòng liên hệ với các Luật sư chuyên gia của Công ty Luật TNHH Everest qua Tổng đài tư vấn pháp luật 1900 6198, hoặc E-mail: [email protected]
  2. Nội dung bài tư vấn pháp luật doanh nghiệp mà Công ty Luật TNHH Everest cung cấp, Quý vị chỉ nên xem như nguồn tài liệu tham khảo.
  3. Tại thời điểm quý Vị đọc bài viết này, các điều luật chúng tôi viện dẫn có thể đã hết hiệu lực, hoặc đã được sửa đổi, bổ sung; các thông tin trong tình huống là cá biệt. Do đó, chúng tôi không đảm bảo những thông tin này có thể áp dụng cho mọi trường hợp, mọi đối tượng, ở mọi thời điểm.