Tư vấn về giao kết hợp đồng trên website thương mại điện tử?

Nếu một website thương mại điện tử có chức năng đặt hàng trực tuyến cho từng hàng hóa hoặc dịch vụ cụ thể được giới thiệu trên website đó, thì các thông tin giới thiệu về hàng hóa, dịch vụ và các điều khoản liên quan được xem là thông báo về đề nghị giao kết hợp đồng

Hỏi: Em có đặt hàng trên 1 web online, nhưng sau này em không muốn mua nữa, em và bến ban 1 vẫn chưa có giao dịch gì, chỉ hỏi giá rồi không mua, giờ bên ban 1 đòi kiện em vì tội không mua hàng. Cho em hỏi trường hợp như vậy có kiện được không, và nếu nộp hồ sơ đơn khởi kiện thì Tòa án căn cứ vào đâu để không thụ lý hồ sơ và không giải quyết?(Đỗ Vũ Nam - Hà Nội).

 >>>Luật sư tư vấn pháp luật qua tổng đài (24/7) gọi: 1900 6198
>>>Luật sư tư vấn pháp luật qua tổng đài (24/7) gọi: 1900 6198

Luật gia Nguyễn Thị Hoài Thương - Tổ tư vấn pháp luật hợp đồng của Công ty Luật TNHH Everest - Trả lời:


- Về việc bạn đặt mua hàng trực tuyến qua website thương mại điện tử

Theo Điều 4 và Điều 5 Thông tư 09/2008/TT-BCT Hướng dẫn nghị định thương mại điện tử về cung cấp thông tin và giao kết hợp đồng trên website thương mại điện tử

"4. Thông báo về đề nghị giao kết hợp đồng của thương nhân

Nếu một website thương mại điện tử có chức năng đặt hàng trực tuyến cho từng hàng hóa hoặc dịch vụ cụ thể được giới thiệu trên website đó, thì các thông tin giới thiệu về hàng hóa, dịch vụ và các điều khoản liên quan được xem là thông báo về đề nghị giao kết hợp đồng của thương nhân sở hữu hàng hóa hoặc dịch vụ đó."

"5. Đề nghị giao kết hợp đồng của khách hàng

Chứng từ điện tử do khách hàng khởi tạo và gửi đi bằng cách sử dụng chức năng đặt hàng trực tuyến được xem là đề nghị giao kết hợp đồng của khách hàng đối với hàng hóa hoặc dịch vụ gắn kèm chức năng đặt hàng trực tuyến đó."

Khi bạn đặt hàng trực tuyến trên một website mua bán hàng hóa thì bạn đã đề nghị giao kết hợp đồng đối với thương nhân sở hữu hàng hóa đó.

Theo quy định tại Điều 7 Thông tư 09/2008/TT-BCT về Chấm dứt đề nghị giao kết hợp đồng

"a) Trường hợp website có công bố thời hạn trả lời đề nghị giao kết hợp đồng, nếu hết thời hạn này mà khách hàng vẫn chưa nhận được trả lời của thương nhân thì đề nghị giao kết hợp đồng của khách hàng chấm dứt hiệu lực.

Việc trả lời chấp nhận sau thời hạn này hình thành một đề nghị giao kết hợp đồng khác từ phía thương nhân.

b) Trong trường hợp website không công bố rõ thời hạn trả lời đề nghị giao kết hợp đồng, nếu trong vòng 08 (tám) giờ làm việc kể từ khi gửi đề nghị giao kết hợp đồng, khách hàng vẫn chưa nhận được trả lời đề nghị giao kết hợp đồng thì đề nghị giao kết hợp đồng của khách hàng được xem là chấm dứt hiệu lực."

Nếu trên website đó không công bố thời hạn trả lời đề nghị giao kết hợp đồng thì trong vòng 8 tiếng kể từ khi bạn đặt mua trực tuyến trên website đó bạn vẫn chưa nhận được trả lời của website đó là có đồng ý hay không thì việc bạn đặt mua hàng sẽ bị chấm dứt, giữa bạn và thương nhân sở hữu hàng hóa bạn đặt mua không có ràng buộc pháp lý, thương nhân đó sẽ không có quyền khởi kiện bạn khi bạn không mua hàng.

- Về giá trị pháp lý của hợp đồng giao kết bằng chức năng đặt hàng trực tuyến

Theo quy định tại Điều 9 Thông tư 09/2008/TT-BCT

"Hợp đồng được giao kết từ sự tương tác giữa khách hàng và chức năng đặt hàng trực tuyến trên website thương mại điện tử không bị phủ nhận giá trị pháp lý chỉ vì không có sự kiểm tra hay can thiệp trực tiếp của thương nhân vào từng bước của quá trình giao kết hợp đồng."

Như vậy giữa bạn và thương nhân sở hữu hàng hóa bạn đặt mua đã giao kết một hợp đồng mua bán hàng hóa có giá trị pháp lý.

Bạn phải thực hiện đúng hợp đồng đã giao kết với bên thương nhân đó, nếu một trong 2 bên vi phạm các điều khoản của hợp đồng thì bên còn lại có quyền khởi kiện.

Khuyến nghị:
  1. Để có ý kiến tư vấn chính xác và cụ thể hơn, Quý vị vui lòng liên hệ với các Luật sư chuyên gia của Công ty Luật TNHH Everest qua Tổng đài tư vấn pháp luật 1900 6198, hoặc E-mail: [email protected]
  2. Nội dung bài tư vấn pháp luật doanh nghiệp mà Công ty Luật TNHH Everest cung cấp, Quý vị chỉ nên xem như nguồn tài liệu tham khảo.
  3. Tại thời điểm quý Vị đọc bài viết này, các điều luật chúng tôi viện dẫn có thể đã hết hiệu lực, hoặc đã được sửa đổi, bổ sung; các thông tin trong tình huống là cá biệt. Do đó, chúng tôi không đảm bảo những thông tin này có thể áp dụng cho mọi trường hợp, mọi đối tượng, ở mọi thời điểm.