Tư vấn tách sổ đỏ thừa kế không có di chúc

Theo khoản 2 Điều 29 Nghị định 43/2014/NĐ-CP thì cơ quan có thẩm quyền sẽ không cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất và không cho phép thực hiện các quyền của người sử dụng đất đối với trường hợp tự chia tách thửa đất đã đăng ký, đã được cấp Giấy chứng nhận.

Hỏi: Ông nội tôi đã mất vào năm 2003 nhưng không để lại di chúc nào. Hiện gia đình có một phần đất thổ cư 300m2, chia làm 03 phần: phần thứ nhất gia đình tôi đã sinh sống hơn 20 năm do ông nội tôi cho phép, phần đất thứ hai là nhà phủ thờ (hiện không còn người ở, chỉ có gia đình tôi qua lại để thờ cúng ông bà), phần thứ ba thì bố của tôi đã mua lại từ ông nội tôi vào năm 1995 (chưa tách bằng khoán, nhưng có giấy chuyển nhượng viết tay).Người cô thứ 8 của tôi tuy đã lấy chồng về nhà chồng, nhưng chưa tách hộ khẩu với gia đình nội tôi. Bây giờ người cô này đề nghị bán nhà phủ thờ để chia tiền nên gia đình tôi không đồng ý và vì lý do đó hiện 300m2 đó vẫn đang đứng tên ông nội đã qua đời của tôi. Tôi định hỏi Luật sư nếu gia đình tôi muốn tách phần đất thứ 03 riêng ra để đứng tên gia đình tôi có được không (phần đất này hiện có giấy chuyển nhượng viết tay vào năm 1995)? (Nguyễn Khuê - Thái Bình)

>>>Luật sư tư vấn pháp luật qua tổng đài (24/7) gọi: 1900 6198
>>>Luật sư tư vấn pháp luật qua tổng đài (24/7) gọi: 1900 6198

Luật gia Trần Thu Trang - Tổ tư vấn pháp luật bất động sản của Công ty Luật TNHH Everest - trả lời:

1/.Gia đình bạn mua đất năm 1995, khi đóđang có hiệu lực và là căn cứ pháp luậtđể áp dụng.

Điều 707quy định về hình thức hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất như sau:

"Hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất phải được lập thành văn bản. Việc chuyển nhượng quyền sử dụng đất phải được phép của cơ quan nhà nước có thẩm quyền, phải được làm thủ tục và đăng ký tại Uỷ ban nhân dân cấp có thẩm quyền theo quy định của pháp luật về đất đai."

Như vậy, vào thời gian 1995, hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đấtcần phải công chứng, chứng thực. Tuy nhiên bố bạn lại không thực hiện công chứng hay chứng thực. Vì vậy, được coi là hợp đồng không tuân thủ quy định về hình thức (Điều 130 Bộ luật dân sự 2005). Nhưng từ năm 1995 đến 2015 là 10 năm, trong khi Khoản 1 Điều 136 Bộ luật dân sự 2005 quy định thời hiện yêu cầu Tòa tuyên bố hợp đồng vô hiệu là 2 năm:

"1. Thời hiệu yêu cầu Toà án tuyên bố giao dịch dân sự vô hiệu được quy định tại các điều từ Điều 130 đến Điều 134 của Bộ luật này là hai năm, kể từ ngày giao dịch dân sự được xác lập".

Tức là, đến thời điểm hiện tại là đã quá 2 năm và trước đó cũng không có bất kỳ tranh chấp gì về mảnh đất, do đó hợp đồng mua bán đất từ năm 1995 sẽ được Tòa án công nhận hiệu lực kể cả khi không có công chứng. Như vậy, gia đình bạn có hợp đồng mua bán đất hợp pháp làm căn cứ để chứng minh quyền của mình với mảnh đất.

Khi ra tòa đối chấp, bố bạn cần đưa ra bản hợp đồng mua bán đất và chứng minh hợp đồng xác lập từ năm 1995. Lúc này, Tòa án sẽ công nhận hợp đồng mua bán đất có hiệu lực và gia đình bạn sẽ thực hiện các quyền của mình. Theo đó, gia đình bạn hoàn toàn có thể thực hiện thủ tục tách thửa phần đất đó. Về trình tự thủ tục tách thửa đất bạn có thể tham khảo bào viết trên trang web Luật Minh Khuê của chúng tôi, cụ thể
Tại đây

2./ Điều kiện để được tách thửa

Theo khoản 2 Điều 29 Nghị định 43/2014/NĐ-CP thì cơ quan có thẩm quyền sẽ không cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất (“Giấy chứng nhận”) và không cho phép thực hiện các quyền của người sử dụng đất đối với trường hợp tự chia tách thửa đất đã đăng ký, đã được cấp Giấy chứng nhận thành hai hoặc nhiều thửa đất mà trong đó có ít nhất một thửa đất có diện tích nhỏ hơn diện tích tối thiểu theo quy định của UBND cấp tỉnh. Do đó, nếu muốn tách thửa thì tất cả các thửa đất được tách phải có diện tích từ 60m2 trở lên.

Khuyến nghị:

  1. Để có ý kiến tư vấn chính xác và cụ thể hơn, Quý vị vui lòng liên hệ với các Luật sư chuyên gia của Công ty Luật TNHH Everest qua Tổng đài tư vấn pháp luật 1900 6198, hoặc E-mail: [email protected]
  2. Nội dung bài tư vấn pháp luật bất động sản mà Công ty Luật TNHH Everest cung cấp, Quý vị chỉ nên xem như nguồn tài liệu tham khảo.
  3. Các điều luật chúng tôi viện dẫn trong bài viết có thể đã hết hiệu lực hoặc đã được sửa đổi, bổ sung. Các thông tin trong tình huống là cá biệt. Do đó, Chúng tôi không đảm bảo những thông tin này có thể áp dụng cho mọi trường hợp, mọi đối tượng, ở mọi thời điểm.