Đất nhà nước cho mượn để làm nhà ở, khi bị thu hồi có được bồi thường không?

Trường hợp không đủ điều kiện để bồi thường khi thu hồi đất vẫn được bồi thường chi phí đầu tư trên đất.

Hỏi: Tôi là cán bộ Nhà nghỉ công đoàn tỉnh (thuộc Tổng liên đoàn lao động tỉnh ), đã nghỉ hưu.Tháng 10 năm 1988, do có nhu cầu về chỗ ở, vợ chồng tôi đã có đơn đề nghị Ban Giám đốc Nhà nghỉ mát Thác Bà cấp cho gia đình tôi diện tích đất theo sườn đồi đài nước của cơ quan, để làm nhà ở và các công trình phục vụ sinh hoạt.Tại cuộc họp ngày 15/11/1988, tập thể lãnh đạo Nhà nghỉ mát Thác Bà đã đồng ý cấp cho gia đình tôi diện tích đất nói trên để làm nhà ở. Trên diện tích đất được cấp, chúng tôi đã đầu tư nhiều công sức, tiền của để san gạt, tôn tạo và xây dựng thành nhà ở, bếp, công trình phụ. Tổng diện tích sử dụng hiện nay khoảng 300 m2. Chúng tôi đã sử dụng ổn định và lâu dài (từ năm 1988 đến nay) diện tích đất nêu trên. Năm 1990 Nhà nghỉ cho phép vợ chồng tôi mượn diện tích đất hoang ở trước cửa nhà tôi, thuộc sườn đồi Nhà nghỉ, tiếp giáp với hồ Thác Bà, để cải tạo thành bến bốc dỡ đá xây dựng. Tại Đại hội Công đoàn Nhà nghỉ Thác Bà, nguyện vọng mượn đất làm bến bốc dỡ đá của vợ chồng tôi được phê duyệt, chúng tôi tiếp tục đầu tư tiền của, công sức để khai phá, san gạt, rải đá tạo thành bến bốc xếp đá và sử dụng thường xuyên cho đến nay. Toàn bộ diện tích đất ở và bến đá hiện gia đình tôi đang sử dụng, vẫn thuộc quyền quản lý của Liên đoàn Lao động tỉnh. Nay tỉnh Yên Bái có chủ trương thu hồi lại đất của Nhà nghỉ Thác Bà, gia đình tôi trong diện bị giải tỏa để trả lại mặt bằng nhưng được cơ quan cho biết là chúng tôi sẽ không được bồi thường thu hồi đất. Xin hỏi Luật sư, điều này có đúng không? (Nguyễn Ngọc – Yên Bái)

>>>Luật sư tư vấn pháp luật qua tổng đài (24/7) gọi: 1900 6198
>>>Luật sư tư vấn pháp luật qua tổng đài (24/7) gọi: 1900 6198

Luật gia Trần Thu Trang – Tổ tư vấn pháp luật bất động sản của Công ty Luật TNHH Everest – trả lời:

Thứ nhất, bồi thường về đất:
Căn cứ quy định tại điều 21, nghị định 43/2014/NĐ-CP như sau:

" Điều 21. Căn cứ xác định việc sử dụng đất ổn định
1. Sử dụng đất ổn định là việc sử dụng đất liên tục vào một mục đích chính nhất định kể từ thời điểm bắt đầu sử dụng đất vào mục đích đó đến thời điểm cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất hoặc đến thời điểm quyết định thu hồi đất của cơ quan nhà nước có thẩm quyền đối với trường hợp chưa cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, Giấy chứng nhận quyền sở hữu nhà ở và quyền sử dụng đất ở, Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất (sau đây gọi chung là Giấy chứng nhận).
2. Thời điểm bắt đầu sử dụng đất ổn định được xác định căn cứ vào thời gian và nội dung có liên quan đến mục đích sử dụng đất ghi trên một trong các giấy tờ sau đây: a) Biên lai nộp thuế sử dụng đất nông nghiệp, thuế nhà đất; b) Biên bản hoặc quyết định xử phạt vi phạm hành chính trong việc sử dụng đất, biên bản hoặc quyết định xử phạt vi phạm hành chính trong việc xây dựng công trình gắn liền với đất; c) Quyết định hoặc bản án của Tòa án nhân dân đã có hiệu lực thi hành, quyết định thi hành bản án của cơ quan Thi hành án đã được thi hành về tài sản gắn liền với đất đai; d) Quyết định giải quyết tranh chấp đất đai của cơ quan nhà nước có thẩm quyền đã có hiệu lực thi hành; biên bản hòa giải tranh chấp đất đai có chữ ký của các bên và xác nhận của đại diện Ủy ban nhân dân cấp xã nơi có đất; đ) Quyết định giải quyết khiếu nại, tố cáo của cơ quan nhà nước có thẩm quyền có liên quan đến việc sử dụng đất; e) Giấy tờ về đăng ký hộ khẩu thường trú, tạm trú dài hạn tại nhà ở gắn với đất ở; Giấy chứng minh nhân dân hoặc Giấy khai sinh, giấy tờ nộp tiền điện, nước và các khoản nộp khác có ghi địa chỉ nhà ở tại thửa đất đăng ký; g) Giấy tờ về việc giao, phân, cấp nhà hoặc đất của cơ quan, tổ chức được Nhà nước giao quản lý, sử dụng đất; h) Giấy tờ về mua bán nhà, tài sản khác gắn liền với đất hoặc giấy tờ về mua bán đất, chuyển nhượng quyền sử dụng đất có chữ ký của các bên liên quan; i) Bản đồ, sổ mục kê, tài liệu điều tra, đo đạc về đất đai qua các thời kỳ; k) Bản kê khai đăng ký nhà, đất có xác nhận của Ủy ban nhân dân cấp xã tại thời điểm kê khai đăng ký.
3. Trường hợp thời điểm sử dụng đất thể hiện trên các loại giấy tờ quy định tại Khoản 2 Điều này có sự không thống nhất thì thời điểm bắt đầu sử dụng đất ổn định được xác định theo giấy tờ có ghi ngày tháng năm sử dụng đất sớm nhất.
4. Trường hợp không có một trong các loại giấy tờ quy định tại Khoản 2 Điều này hoặc trên giấy tờ đó không ghi rõ thời điểm xác lập giấy tờ và mục đích sử dụng đất thì phải có xác nhận của Ủy ban nhân dân cấp xã về thời điểm bắt đầu sử dụng đất và mục đích sử dụng đất trên cơ sở thu thập ý kiến của những người đã từng cư trú cùng thời điểm bắt đầu sử dụng đất của người có yêu cầu xác nhận trong khu dân cư (thôn, làng, ấp, bản, buôn, phum, sóc, tổ dân phố) nơi có đất".

Như vậy, trường hợp của bạn thuộc trường hợp sử dụng đất ổn định tuy nhiên thì cả đất làm nhà ở và đất làm bến bốc dỡ đá xây dựng đều là đất của Nhà nghỉ Thác Bà do đó gia đình bạn không đủ điều kiện để được cấp giấy chứng nhận sử dụng đất nên gia đình bạn không được bồi thường về đất, căn cứ quy định tại khoản 2 điều 79, luật đất đai năm 2013 quy định như sau:

Khoản 2 Điều 79. Bồi thường về đất khi Nhà nước thu hồi đất ở
“2. Hộ gia đình, cá nhân khi Nhà nước thu hồi đất gắn liền với nhà ở phải di chuyển chỗ ở mà không đủ điều kiện được bồi thường về đất ở, nếu không có chỗ ở nào khác thì được Nhà nước bán, cho thuê, cho thuê mua nhà ở hoặc giao đất ở có thu tiền sử dụng đất”.

Như vậy, đối với nhà ở mà gia đình bạn phải di dời khi không đủ điều kiện được bồi thường về đất thì được nhà nước bán, cho thuê, cho thuê mua nhà ở hoặc giao đất ở có thu tiền sử dụng.

Thứ hai, bồi thường về chi phí đầu tư trên đất:

Về vấn đề bồi thường chi phí khi gia đình bạn đầu tư phần đất làm bến bốc dỡ đá xây dựng thi bồi thường theo quy định tại khoản 2, điều 80, Luật đất đai năm 2013 như sau:

" Điều 80. Bồi thường về đất, chi phí đầu tư vào đất còn lại khi Nhà nước thu hồi đất phi nông nghiệp không phải là đất ở của hộ gia đình, cá nhân
..................
2. Hộ gia đình, cá nhân đang sử dụng đất phi nông nghiệp không phải là đất ở được Nhà nước cho thuê đất thu tiền thuê đất hàng năm; cho thuê đất trả tiền thuê đất một lần cho cả thời gian thuê nhưng được miễn tiền thuê đất, khi Nhà nước thu hồi đất thì không được bồi thường về đất nhưng được bồi thường chi phí đầu tư vào đất còn lại, trừ trường hợp hộ gia đình, cá nhân sử dụng đất do thực hiện chính sách đối với người có công với cách mạng.
................"
Thứ ba, hỗ trợ tái định cư:
Về vấn đề hỗ trợ tái định cư quy định tại khoản 4, điều 86, Luật đất đai 2013 thì gia đình bạn có thể được hỗ trợ như sau:

Khoản 14 Điều 86. Bố trí tái định cư cho người có đất ở thu hồi mà phải di chuyển chỗ ở

"14. Trường hợp người có đất thu hồi được bố trí tái định cư mà tiền bồi thường, hỗ trợ không đủ để mua một suất tái định cư tối thiểu thì được Nhà nước hỗ trợ tiền đủ để mua một suất tái định cư tối thiểu"


Khuyến nghị:
  1. Để có ý kiến tư vấn chính xác và cụ thể hơn, Quý vị vui lòng liên hệ với các Luật sư chuyên gia của Công ty Luật TNHH Everest qua Tổng đài tư vấn pháp luật 1900 6198, hoặc E-mail: [email protected]
  2. Nội dung bài tư vấn pháp luật bất động sản mà Công ty Luật TNHH Everest cung cấp, Quý vị chỉ nên xem như nguồn tài liệu tham khảo.
  3. Tại thời điểm quý Vị đọc bài viết này, các điều luật chúng tôi viện dẫn có thể đã hết hiệu lực, hoặc đã được sửa đổi, bổ sung; các thông tin trong tình huống là cá biệt. Do đó, chúng tôi không đảm bảo những thông tin này có thể áp dụng cho mọi trường hợp, mọi đối tượng, ở mọi thời điểm.