Có thể khiếu nại hay sửa hồ sơ tách đất?

Luật sư tư vấn về trường hợp có thể khiếu nại hay sửa hồ sơ tách đất? Nếu các bên tranh chấp không hòa giải được thì gửi đơn đến Ủy ban nhân dân cấp xã nơi có đất tranh chấp để hòa giải. Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp xã có trách nhiệm tổ chức việc hòa giải tranh chấp...

Hỏi: Mới đây bác ruột của em có xin tách quyền sử dụng đất. Số đất ban đầu ông bà nội em cho là 200m2, nhưng khi làm hồ sơ chuyển nhượng bác em khai là tách 260m2. Do ông bà không đọc được nội dung nên đã kí tên, còn ba em thì lúc đó đang sỉn nên cũng đã kí mà chưa đọc hồ sơ. Hiện tại, trong hộ khẩu còn mẹ em và em là chưa kí. Nhưng hồ sơ đã được bác em gửi đi và đang trong giai đoạn hoàn tất. Luật sư cho em hỏi là, có cách nào để em khiếu nại hoặc là sửa lại cái hồ sơ tách đất của bác em (vì hiện tại, ông bà em xác nhận là chỉ cho bác em 200m2)? (Lê Hoàng Anh - Cao Bằng)

>>>Luật sư tư vấn pháp luật qua tổng đài (24/7) gọi: 1900 6198
>>>Luật sư tư vấn pháp luật qua tổng đài (24/7) gọi: 1900 6198

Luật gia Bùi Ánh Vân - Tổ tư vấn pháp pháp luật bất động sản của Công ty Luật TNHH Everest - trả lời:

Theo quy định tại khoản 1 điều 122 BLDS quy định về điều kiện có hiệu lực của giao dịch dân sự như sau:

"1. Giao dịch dân sự có hiệu lực khi có đủ các điều kiện sau đây: a) Người tham gia giao dịch có năng lực hành vi dân sự; b) Mục đích và nội dung của giao dịch không vi phạm điều cấm của pháp luật, không trái đạo đức xã hội; c) Người tham gia giao dịch hoàn toàn tự nguyện.

2. Hình thức giao dịch dân sự là điều kiện có hiệu lực của giao dịch trong trường hợp pháp luật có quy định".

Điều 133 BLDS 2005 có quy định về giao dịch dân sự vô hiệu

"Người có năng lực hành vi dân sự nhưng đã xác lập giao dịch vào đúng thời điểm không nhận thức và làm chủ được hành vi của mình thì có quyền yêu cầu Toà án tuyên bố giao dịch dân sự đó là vô hiệu".

Như vậy, theo thông tin mà bạn cung cấp thì khi xin tách thửa, ông bà bạn cho bác ruột 200m2 đất nhưng khi xin tách thửa thì bác bạn lại khai tách là 260m2. Do ông bà không đọc được nội dung nên đã kí tên, còn ba bạn thì lúc đó đang xỉn nên cũng đã kí mà chưa đọc hồ sơ.Trong trường hợp này bạn có thể làm đơn yêu cầu Tòa án tuyên bố hợp đồng trên vô hiệu do người xác lập không nhận thức được hành vi của mình.

Hoặc trong trường hợp có xảy ra tranh chấp về quyền sử dụng đất, thì bạn có thể làm đơn yêu cầu cơ quan Nhà nước có thẩm quyền giải quyết vấn đề này.

Theo Điều 202 Luật Đất đai 2013 thì Nhà nước khuyến khích các bên tranh chấp đất đai tự hòa giải hoặc giải quyết tranh chấp đất đai thông qua hòa giải ở cơ sở.

"Nếu các bên tranh chấp không hòa giải được thì gửi đơn đến Ủy ban nhân dân cấp xã nơi có đất tranh chấp để hòa giải. Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp xã có trách nhiệm tổ chức việc hòa giải tranh chấp tại địa phương mình; trong quá trình tổ chức thực hiện phải phối hợp với Ủy ban Mặt trận Tổ quốc Việt Nam cấp xã và các tổ chức thành viên của Mặt trận, các tổ chức xã hội khác. Thủ tục hòa giải tranh chấp đất đai tại Ủy ban nhân cấp xã được thực hiện trong thời hạn không quá 45 ngày, kể từ ngày nhận được đơn yêu cầu giải quyết tranh chấp đất đai.

Việc hòa giải phải được lập thành biên bản có chữ ký của các bên và có xác nhận hòa giải thành hoặc hòa giải không thành của Ủy ban nhân dân cấp xã. Biên bản hòa giải được gửi đến các bên tranh chấp, lưu tại Ủy ban nhân dân cấp xã nơi có đất tranh chấp.

Tranh chấp đất đai đã được hòa giải tại Ủy ban nhân dân cấp xã mà không thành mà đương sự có giấy chứng nhận hoặc có một trong các loại giấy tờ quy định tại Điều 100 của Luật Đất đai 2013 và tranh chấp về tài sản gắn liền với đất hoặc trường hợp đương sự không có giấy chứng nhận hoặc không có một trong các loại giấy tờ quy định tại Điều 100 của Luật Đất đai 2013 nhưng lựa chọn hình thức giải quyết tranh chấp đất đai là khởi kiện dân sự thì vụ việc do Tòa án nhân dân giải quyết theo quy định của pháp luật về tố tụng dân sự".

Khuyến nghị:
  1. Để có ý kiến tư vấn chính xác và cụ thể hơn, Quý vị vui lòng liên hệ với các Luật sư chuyên gia của Công ty Luật TNHH Everest qua Tổng đài tư vấn pháp luật 1900 6198, hoặc E-mail: [email protected]
  2. Nội dung bài tư vấn pháp luật bất động sản mà Công ty Luật TNHH Everest cung cấp, Quý vị chỉ nên xem như nguồn tài liệu tham khảo.
  3. Tại thời điểm quý Vị đọc bài viết này, các điều luật chúng tôi viện dẫn có thể đã hết hiệu lực, hoặc đã được sửa đổi, bổ sung; các thông tin trong tình huống là cá biệt. Do đó, chúng tôi không đảm bảo những thông tin này có thể áp dụng cho mọi trường hợp, mọi đối tượng, ở mọi thời điểm.