Chuyển tiền nhầm tài khoản có lấy lại được tiền không?

Sau khi chuyển nhầm tiền vào tài khoản, người chuyển tiền có thể báo cho Ngân hàng. Ngân hàng khi phát hiện có dấu hiệu nhầm lẫn hay sai sót sẽ thông báo cho chủ tài khoản và thực hiện phong tỏa, tạm khóa tài khoản cho đến khi làm rõ, khắc phục xong những sai sót trên.

Hỏi: Ngày 2 tháng 3 năm 2015, tôi có ra ngân hàng gửi tiền vào tài khoản cho người thân trong gia đình. Nhưng đến hôm qua gia đình tôi thông báo là chưa nhận được tiền. Kiểm tra lại hóa đơn thì em biết đã chuyển nhầm vào một số tài khoản ngân hàng không đúng của gia đình. Thời gian là khoảng 02 ngày từ khi tôi gửi tiền mới phát hiện gửi nhầm. Anh chị vui lòng cho tôi hỏi là bây giờ tôi phải làm thế nào? Liệu tôi có lấy lại được số tiền tôi đã gửi nhầm không? (Thành Công – Thanh Hóa)

Luật sư tư vấn pháp luật qua tổng đài (24/7) gọi: 1900

Luật sư Lê Thị Quỳnh - Tổ tư vấn pháp luật Hình sự của Công ty Luật TNHH Everest - trả lời:

Theo Khoản 4 Điều 36 Thông tư 23/2010/TT-NHNNdo Ngân hàng Nhà nước Việt Nam ban hành định về việc quản lý, vận hành và sử dụng hệ thống thanh toán điện tử liên ngân hàng thì:


Đối với Lệnh thanh toán sai địa chỉ khách hàng (Lệnh thanh toán chuyển đúng đơn vị nhận lệnh nhưng không có người nhận lệnh hoặc người nhận lệnh mở tài khoản ở Ngân hàng khác), sai tên, số hiệu tài khoản của người nhận Lệnh thanh toán (đúng tên nhưng sai số hiệu tài khoản hoặc ngược lại), ký hiệu chứng từ, ký hiệu loại nghiệp vụ, xử lý như sau:

a) Đối với các Lệnh thanh toán Có (hoặc Nợ) đơn vị nhận lệnh đã nhận nhưng chưa hạch toán thì thực hiện hạch toán vào tài khoản phải trả (phải thu) sau đó lập Lệnh thanh toán chuyển trả lại đơn vị khởi tạo lệnh. Nghiêm cấm đơn vị nhận lệnh chuyển tiền tiếp;

b) Đối với các Lệnh thanh toán đã thực hiện, đơn vị nhận lệnh xử lý tương tự như đã nêu tại Điểm b Khoản 3 Điều này.”

Như vậy, khi anh chuyển nhầm tiền vào tài khoản của người khác anh cần mang theo Chứng minh thư nhân dân, thẻ ATM, hóa đơn chuyển khoản in ra từ máy ATM, và cung cấp thông tin về số tài khoản và chữ ký của anh, số tài khoản chuyển nhầm, số tài khoản đúng mà anh muốn chuyển đến, đến Ngân hàng nơi anh chuyển tiền để báo về việc chuyển nhầm tiền vào tài khoản, đồng thời yêu cầu tra soát, rà soát đối với sai sót giao dịch chuyển tiền liên ngân hàng.

Ngân hàng khi phát hiện có dấu hiệu nhầm lẫn hay sai sót sẽ thông báo cho chủ tài khoản và thực hiện phong tỏa, tạm khóa tài khoản cho đến khi làm rõ, khắc phục xong những sai sót trên.

Trong trường hợp tài khoản thụ hưởng đã bị khóa, hoặc bị phong tỏa vẫn còn số tiền anh chuyển đến thì Ngân hàng sẽ chuyển tiền trả lại cho anh.

Nếu trường hợp số tiền gửi nhầm vào tài khoản đã được rút, Ngân hàng sẽ thông báo và liên lạc với chủ tài khoản để yêu cầu trả lại số tiền trên. Trường hợp chủ tài khoản không đồng ý trả lại số tiền, anh có thể đề nghị Ngân hàng cung cấp thông tin của chủ tài khoản này để khởi kiện yêu cầu trả lại số tiền trên, căn cứ vào Điều 579 Bộ luật Dân sự năm 2015 quy định về nghĩa vụ hoàn trả như sau:

“1. Người chiếm hữu, người sử dụng tài sản của người khác mà không có căn cứ pháp luật thì phải hoàn trả cho chủ sở hữu, chủ thể có quyền khác đối với tài sản đó; nếu không tìm được chủ sở hữu, chủ thể có quyền khác đối với tài sản thì phải giao cho cơ quan nhà nước có thẩm quyền, trừ trường hợp quy định tại Điều 236 của Bộ luật này.

2. Người được lợi về tài sản mà không có căn cứ pháp luật làm cho người khác bị thiệt hại thì phải hoàn trả khoản lợi đó cho người bị thiệt hại, trừ trường hợp quy định tại Điều 236 của Bộ luật này”.

Trong trường hợp này, nếu chủ tài khoản anh gửi nhầm đã được Ngân hàng thông báo, anh đã yêu cầu trả lại số tiền nhưng người này vẫn cố ý chiếm giữ trái phép tài sản thì có thể sẽ bị truy cứu trách nhiệm hình sự theo Điều 141 Bộ luật Hình sự năm 2015 quy định:

“Người nào vì vụ lợi mà sử dụng trái phép tài sản của người khác trị giá ừ một trăm triệu đồng đến dưới năm trăm triệu đồng, đã bị xử lý kỷ luật, xử lý vi phạm hành chính về hành vi này hoặc dã bị kết án về tội này, chưa được xóa án tích mà còn vi phạm hoặc tài sản là di vật, cổ vật hoặc vật có giá trị lịch sử,văn hóa nếu không thuộc trường hợp quy định tại Điều 220 của Bộ luật này thì bị phạt tiền từ mười triệu đồng đến năm mươi triệu đồng, phạt cải tạo không giam giữ đến 02 năm hoặc phạt tù từ ba tháng đến hai năm.”


Tóm lại, nếu trong trường hợp Ngân hàng trong nhiệm vụ quyền hạn không thể giải quyết để giúp anh lấy lại được số tiền thì anh có thể tiến hành theo phương án kiện dân sự hoặc tố giác tội phạm như đã trình bày ở trên.

Khuyến nghị:

  1. Để có ý kiến tư vấn chính xác và cụ thể hơn, Quý vị vui lòng liên hệ với các Luật sư chuyên gia của Công ty Luật TNHH Everest qua Tổng đài tư vấn pháp luật 1900 6198, hoặc E-mail: [email protected]
  2. Nội dung bài tư vấn pháp luật Hình sự mà Công ty Luật TNHH Everest cung cấp, Quý vị chỉ nên xem như nguồn tài liệu tham khảo.
  3. Tại thời điểm quý Vị đọc bài viết này, các điều luật chúng tôi viện dẫn có thể đã hết hiệu lực, hoặc đã được sửa đổi, bổ sung; các thông tin trong tình huống là cá biệt. Do đó, chúng tôi không đảm bảo những thông tin này có thể áp dụng cho mọi trường hợp, mọi đối tượng, ở mọi thời điểm.