Chủ sở hữu hộ kinh doanh có thể thành lập doanh nghiệp mới không?

Hỏi: Hiện tôi đang đứng tên kinh doanh hộ gia đình, thì bây giờ muốn thành lập doanh nghiệp để phục vụ mục đích khác. Đề nghị Luật sư tư vấn, tôi có thể đứng tên cùng lúc hai đối tượng trên hay không? Quy định pháp luật pháp luật thế nào? (Nguyễn Thu - Hải Phòng)

Luật sư tư vấn pháp luật qua tổng đài (24/7) gọi: 1900 6198
Luật sư tư vấn pháp luật qua tổng đài (24/7) gọi: 1900 6198

Luật gia Hà Thu Hường - Tổ tư vấn pháp luật doanh nghiệp - Công ty Luật TNHH Everest - trả lời:
Theo quy định tại khoản 2, điều 12 về quyền thành lập doanh nghiệp Nghị định số 102/2010/NĐ-CP hướng dẫn chi tiết thi hành một số điều của Luật Doanh nghiệp:

"2. Mỗi cá nhân chỉ được quyền đăng ký thành lập một doanh nghiệp tư nhân hoặc một hộ kinh doanh hoặc làm thành viên hợp danh của một công ty hợp danh, trừ trường hợp các thành viên hợp danh còn lại có thỏa thuận khác. Cá nhân chủ sở hữu doanh nghiệp tư nhân hoặc hộ kinh doanh hoặc cá nhân thành viên hợp danh có quyền thành lập, tham gia thành lập công ty trách nhiệm hữu hạn một thành viên, công ty trách nhiệm hữu hạn hai thành viên trở lên, công ty cổ phần".

Như vậy, do anh (chị) đã làm chủ sở hữu của hộ kinh doanh cá thể nên anh (chị) chỉ có quyền thành lập doanh nghiệp mới là công ty trách nhiệm hữu hạn một thành viên, công ty trách nhiệm hữu hạn hai thành viên trở lên hoặc công ty cổ phần. Ngoài ba loại hình doanh nghiệp trên anh không thể được thành lập một doanh nghiệp nào khác. Do vậy, trong trường hợp này, anh nên thành lập công ty TNHH một thành viên để vừa phù hợp với quy định pháp luât, vừa phù hợp với quy mô, mục đích kinh doanh (vừa và nhỏ )của anh (chị).

Khuyến nghị:

  1. Để có ý kiến tư vấn chính xác và cụ thể hơn, Quý vị vui lòng liên hệ với các Luật sư chuyên gia của Công ty Luật TNHH Everest qua Tổng đài tư vấn pháp luật 1900 6198, hoặc E-mail: [email protected]
  2. Nội dung bài tư vấn pháp luật doanh nghiệp mà Công ty Luật TNHH Everest cung cấp, Quý vị chỉ nên xem như nguồn tài liệu tham khảo.
  3. Tại thời điểm quý Vị đọc bài viết này, các điều luật chúng tôi viện dẫn có thể đã hết hiệu lực, hoặc đã được sửa đổi, bổ sung; các thông tin trong tình huống là cá biệt. Do đó, chúng tôi không đảm bảo những thông tin này có thể áp dụng cho mọi trường hợp, mọi đối tượng, ở mọi thời điểm.