Cá độ bóng đá có bị truy cứu trách nhiệm hình sự không?

Người nào đánh bạc trái phép dưới bất kỳ hình thức nào được thua bằng tiền hay hiện vật có giá trị từ hai triệu đồng đến dưới năm mươi triệu đồng hoặc dưới hai triệu đồng nhưng đã bị kết án về tội này hoặc tội quy định tại Điều 249 của Bộ luật này,

Hỏi: Từ năm 2013 đến nay em có tham gia chơi cá độ , mỗi lần gửi tiền vào tài khoản khoảng dưới 2 triệu đồng. Mỗi ngày em chơi nhiều trận khác nhau, mỗi trận cao nhất cũng chỉ 500 nghìn đồng. Về bản thân em thì chưa bị vi phạm pháp luật bao giờ. Em cũng tìm hiều về điều 248 nhưng không hiểu cụ thể trong TH của em sẽ như thế nào. Vậy em xin hỏi trường hợp của em tội nặng nhất sẽ như thế nào? Có cách nào để giảm tội không? (Huy Hoàng - Hà Nội)

Luật sư tư vấn pháp luật qua tổng đài (24/7) gọi: 1900 6198 Luật gia Nguyễn Thanh Hương - Tổ tư vấn pháp luật hình sự Công ty Luật TNHH Everest - trả lời:
Luật sư tư vấn pháp luật qua tổng đài (24/7) gọi: 1900 6198


Luật gia Nguyễn Thanh Hương - Tổ tư vấn pháp luật hình sự Công ty Luật TNHH Everest - trả lời:
Đối với Tội đánh bạc
được quy đinh tại điều 248Bộ luật hình sự 1999, sửa đổi bổ sung năm 2009như sau:

“1. Người nào đánh bạc trái phép dưới bất kỳ hình thức nào được thua bằng tiền hay hiện vật có giá trị từ hai triệu đồng đến dưới năm mươi triệu đồng hoặc dưới hai triệu đồng nhưng đã bị kết án về tội này hoặc tội quy định tại Điều 249 của Bộ luật này, chưa được xóa án tích mà còn vi phạm, thì bị phạt tiền từ năm triệu đồng đến năm mươi triệu đồng, cải tạo không giam giữ đến ba năm hoặc phạt tù từ ba tháng đến ba năm.

2. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ hai năm đến bảy năm:

a) Có tính chất chuyên nghiệp;

b) Tiền hoặc hiện vật dùng đánh bạc có giá trị từ năm mươi triệu đồng trở lên;

c) Tái phạm nguy hiểm.

3. Người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ ba triệu đồng đến ba mươi triệu đồng”.

Như vậy, hành vi của bạn có dấu hiệu cấu thành tội đánh bạc theo quy định pháp luật.

Tuy nhiên, theo hướng dẫn của Nghị quyết số 01/2010/NQ – HĐTP Hướng dẫn áp dụng một số quy định tại Điều 248 và Điều 249 của Bộ luật Hình sự về Tội đánh bạc được quy định như sau:

Điểm b khoản 4 Điều 1 quy định:“…Trường hợp đánh bạc dưới hình thức chơi số đề, cá độ bóng đá, cá độ đua ngựa... thì một lần chơi số đề, một lần cá độ bóng đá, một lần cá độ đua ngựa... (để tính là một lần đánh bạc) được hiểu là tham gia chơi trong một lô đề, tham gia cá độ trong một trận bóng đá, tham gia cá độ trong một kỳ đua ngựa... trong đó người chơi có thể chơi làm nhiều đợt. Trách nhiệm hình sự được xác định đối với người chơi một lần đánh bạc trong các trường hợp này là tổng số tiền, giá trị hiện vật dùng để chơi trong các đợt đó.”

Theo như bạn trình bày thì số tiền bạn tham gia cá độ trong 1 trận bóng đá là dưới 500 nghìn đồng (nhỏ hơn 2 triệu đồng). Do vậy với hành vi và số tiền tham gia cá độ trên thì bạn sẽ bị xử phạt hành chính.

Theo Điều 26Nghị định 167/2013/NĐ-CP thì :

"2.Phạt tiền từ 1.000.000 đồng đến 2.000.000 đồng đối với một trong những hành vi đánh bạc sau đây:

a)Đánh bạc trái phép bằng một trong các hình thức như xóc đĩa, tá lả, tổ tôm, tú lơ khơ, tam cúc, 3 cây, tứ sắc, đỏ đen, cờ thế hoặc các hình thức khác mà được, thua bằng tiền, hiện vật;

b)Đánh bạc bằng máy, trò chơi điện tử trái phép;

c)Cá cược bằng tiền hoặc dưới các hình thức khác trong hoạt động thi đấu thể thao, vui chơi giải trí, các hoạt động khác;

d)Bán bảng đề, ấn phẩm khác cho việc đánh lô, đề".
Như vậy, đánh bạc dưới bất kỳ hình thức nào tùy theo mức độ cũng bị xử lý hành chính hoặc hình sự. Trường hợp bạn hỏi cá độ qua mạng Internet, thì người tham gia cá độ vẫn có thể bị xử lý hành chính hoặc hình sự tùy thuộc vào mức độ vi phạm.

Khuyến nghị:
  1. Để có ý kiến tư vấn chính xác và cụ thể hơn, Quý vị vui lòng liên hệ với các Luật sư chuyên gia của Công ty Luật TNHH Everest qua Tổng đài tư vấn pháp luật 1900 6198, hoặc E-mail: [email protected]
  2. Nội dung bài tư vấn pháp luật Hình sự mà Công ty Luật TNHH Everest cung cấp, Quý vị chỉ nên xem như nguồn tài liệu tham khảo.
  3. Tại thời điểm quý Vị đọc bài viết này, các điều luật chúng tôi viện dẫn có thể đã hết hiệu lực, hoặc đã được sửa đổi, bổ sung; các thông tin trong tình huống là cá biệt. Do đó, chúng tôi không đảm bảo những thông tin này có thể áp dụng cho mọi trường hợp, mọi đối tượng, ở mọi thời điểm.