Thu hồi đất cho Dự án Deep C III (Cát Hải): Không có Hợp đồng thuê đất, chỉ có Hợp đồng thuê mặt nước!

Công ty Luật TNHH Everest hỗ trợ pháp lý cho một số hộ dân tại huyện Cát Hải (Hải Phòng) yêu cầu Ủy ban nhân dân huyện Cát Hải thực hiện bồi thường, hỗ trợ thu hồi đất nông nghiệp cho Dự án khu công nghiệp Deep C III minh bạch, công bằng, đúng pháp luật.

Dù liên tục sử dụng đất nuôi trồng thủy sản trong suốt hơn 40 năm (từ 1986 đến 2018), nhưng nhiều hộ dân tại Cát Hải không được Nhà nước giao đất theo đúng quy định pháp luật về đất đai. Việc sử dụng đất của người dân được 'hợp pháp hóa' qua các "Hợp đồng cho thuê cơ sở mặt nước nuôi trồng thủy sản", dẫn đến việc khi Nhà nước có quyết định thu hồi đất, nhiều hộ dân tại Cát Hải không được bồi thường một cách hợp hiến, hợp pháp.

Ngày 13/11/2019, Tòa án nhân dân thành phố Hải Phòng xét xử sơ thẩm Vụ án “Khiếu kiện quyết định hành chính”, người bị kiện là Ủy ban nhân dân huyện Cát Hải thành phố Hải Phòng (thụ lý số 2827/2019-TLST-HC ngày 11/07/2019). Tuy nhiên, người khởi kiện có đầy đủ cơ sở kháng cáo đối vớiToàn bộ bản án sơ thẩm được xét xử ngày 13/11/2019 của Tòa án nhân dân thành phố Hải Phòng.

Những 'nông dân không đất' ở Cát Hải phản ánh với Đài truyền hình Việt Nam (VTV)
Những 'nông dân không đất' ở Cát Hải phản ánh với Đài truyền hình Việt Nam (VTV)

Sau khi nghiên cứu hồ sơ vụ án, các Luật sư của Công ty Luật TNHH Everest cho rằng: Các tình tiết khách quan trong vụ án đã không được xem xét tại phiên Tòa xét xử sơ thẩm. Cụ thể:

“Hợp đồng thuê cơ sở mặt nước nuôi trồng thủy sản” - không phải là “hợp đồng thuê đất”.

Luật đất đai phân biệt rõ các khái niệm: “đất nông nghiệp - nuôi trồng thủy sản” và “mặt nước”, “đất có mặt nước”, “mặt nước nội địa”, “mặt nước ven biển”. Cụ thể, về các khái niệm này tại Luật Đất đai năm 1987: “Đất nông nghiệp… nuôi trồng thuỷ sản” (Điều 23), “Đất chuyên dùng là đất được xác định dùng vào các mục đích không phải là nông nghiệp, lâm nghiệp hoặc đất khu dân cư như: ... đất có mặt nước sử dụng vào các mục đích không phải là nông nghiệp” (Điều 36); Luật Đất đai năm 1993: “Đất nông nghiệp… nuôi trồng thuỷ sản” (Điều 42). “Việc sử dụng mặt nước nội địa để nuôi trồng, khai thác thuỷ sản và vào các mục đích khác được quy định như sau: 1- Ao, hồ, đầm không thể giao hết cho một hộ gia đình, một cá nhân thì giao cho nhiều hộ gia đình, nhiều cá nhân hoặc tổ chức kinh tế sử dụng…” (Điều 47); Luật Đất đai năm 2003: “Đất nuôi trồng thủy sản” (Điểm e Khoản 1 Điều 13), “Việc sử dụng đất có mặt nước nội địa để nuôi trồng thuỷ sản, sản xuất nông nghiệp được quy định như sau: 1- Ao, hồ, đầm được Nhà nước giao, cho thuê thu tiền thuê đất hàng năm đối với tổ chức kinh tế, hộ gia đình, cá nhân để sử dụng vào mục đích nuôi trồng thuỷ sản…” (Điều 78), “Đất có mặt nước ven biển được Nhà nước cho thuê thu tiền thuê đất hàng năm đối với tổ chức kinh tế, hộ gia đình, cá nhân để sử dụng vào mục đích nuôi trồng thủy sản…” (Điều 79). Luật Đất đai năm 2013: “Đất nuôi trồng thủy sản” (Điểm e Khoản 1 Điều 10), “Đất có mặt nước nội địa: 1- Ao, hồ, đầm được Nhà nước giao theo hạn mức đối với hộ gia đình, cá nhân để sử dụng vào mục đích nuôi trồng thủy sản... Ao, hồ, đầm được Nhà nước cho thuê đối với tổ chức kinh tế, hộ gia đình, cá nhân…” (Điều 139), “Đất có mặt nước ven biển: 1- Đất có mặt nước ven biển được Nhà nước cho thuê đối với tổ chức kinh tế, hộ gia đình, cá nhân… để sử dụng vào mục đích nuôi trồng thủy sản…” (Điều 140).

Như vậy, có thể thấy rằng, pháp luật đất đai qua các thời kỳ đều phân biệt rõ khái niệm đất “đất nông nghiệp - nuôi trồng thủy sản” với “mặt nước”, “đất có mặt nước” “mặt nước nội địa”, “mặt nước ven biển”.

Tại hồ sơ các vụ án “khiếu kiện các quyết định hành chính”, thể hiện các chứng cứ mà Ủy ban nhân dân huyện Cát Hải (người bị kiện) đưa ra để chứng minh: đây thuộc trường hợp “đất được Nhà nước cho thuê trả tiền thuê đất hàng năm” (theo Điểm c, Khoản 1 Điều 76 Luật đất đai năm 2013) là các “Hợp đồng thuê cơ sở mặt nước nuôi trồng thủy sản”. Về nội dung này, quá trình tranh tụng tại 02 phiên tòa sơ thẩm Tòa án nhân dân thành phố Hải Phòng vào ngày 13/11/2019, người khởi kiện là ông Trần Đức Vệ và bà Bùi Thị Chuyền, ông Nguyễn Văn Trọng và bà Nguyễn Thị Hợp, cho rằng: "Hợp đồng thuê cơ sở mặt nước nuôi trồng thủy sản” - không phải là “hợp đồng thuê đất”. Người bị kiện (Ủy ban nhân dân huyện Cát Hải) và đại diện Viện kiểm sát xác nhận: “cơ sở mặt nước nuôi trồng thủy sản” khác với “đất nuôi trồng thủy sản”. Nghĩa là: “Hợp đồng thuê cơ sở mặt nước nuôi trồng thủy sản” - không phải là “hợp đồng thuê đất”. Về nguyên tắc, “chứng cứ phải được xem xét đầy đủ, khách quan, toàn diện, công khai”. Tuy nhiên, Hội đồng xét xử hoàn toàn “bỏ qua” căn cứ này, vẫn kết luận đây là “đất được Nhà nước cho thuê trả tiền thuê đất hàng năm” - một kết luận không phù hợp với những tình tiết khách quan của vụ án.

Khái niệm đất "khai hoang":

Việc “khai hoang” đất là hoạt động được khuyến khích trong quy định của pháp luật đất đai: Điều 2 Luật Đất đai năm 1987, Điều 5 Luật Đất đai năm 1993, Điều 12 Luật Đất đai năm 2003, Điều 9 Luật Đất đai năm 2013. Thuật ngữ “khai hoang” không định nghĩa trong pháp luật đất đai cho tới ngày 29/12/2014 được quy định tại Thông tư số 52/2014/TT-BTNMT. Trong khi đó, khái niệm “khai hoang” thông thường trong tiếng Việt hiểu là: mở mang, khai phá ruộng đất. Từ điển tiếng Việt do Giáo sư Hoàng Phê chủ biên, được Cố thủ tướng Phạm Văn Đồng xem và lưu bút tích ngày 07/03/1987 - Nhà xuất bản Hồng Đức định nghĩa: (i) “khai” - “mở cho lối thoát, bằng cách gạt bỏ những vật chắn, vật cản trở”; “Mở ra, làm cho bắt đầu tồn tại và hoạt động”; (ii) “khai hoang” - “khai phá vùng đất hoang”.

Thực tế, thời điểm người dân thị trấn Cát Hải “khai hoang” “đất nuôi trồng thủy sản” từ trước năm 1990, ban đầu vào khoảng năm 1985, người dân địa phương Cát Hải đã đánh bắt tự nhiên, tới thời điểm năm 1990 đã thực hiện phân định ranh giới, vây lưới để nuôi thả rau câu, tới thời điểm từ 1995 be bờ, đắp đập, đào đầm... Đây phải được hiểu chính xác là hoạt động “khai hoang” đất. Nội dung này đã thể hiện rõ tại các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án: cụ thể cùng một “Đầm Công an”, nhưng một phần diện tích lại xác định là “khai hoang” (diện tích do ông Bùi Đức Chỉnh khai hoang), một diện tích lại xác định là “hồ dự trữ nước và tiêu thoát nước” là trái với thực tế khách quan.


Luật sư Phạm Ngọc Minh - Công ty Luật TNHH Everest - Tổng đài (24/7): 1900 6198
Luật sư Phạm Ngọc Minh - Công ty Luật TNHH Everest - Tổng đài (24/7): 1900 6198

Không phân biệt rõ ràng giữa hai hoạt động: “quản lý về đất đai” và “sử dụng đất”:


Theo quy định của pháp luật đất đai:

Quản lý về đất đai”: là hoạt động của Nhà nước, Nhà nước không giao chức năng quản lý đất đai cho các tổ chức, cá nhân không có chức năng quản lý nhà nước về đất đai. Cụ thể: “đất đai thuộc sở hữu toàn dân” do: “Nhà nước thống nhất quản lý” (Điều 1 Luật Đất đai năm 1987, Điều 1 Luật Đất đai năm 1993); “Nhà nước đại diện chủ sở hữu toàn dân về đất đai” và “thống nhất quản lý về đất đai” (Điều 1 Luật Đất đai năm 2003), “Nhà nước đại diện chủ sở hữu toàn dân về đất đai và thống nhất quản lý về đất đai” (Điều 1 Luật Đất đai năm 2013).

Người sử dụng đất”: “Nhà nước giao đất cho các nông trường, lâm trường, hợp tác xã,… tổ chức xã hội và cá nhân - dưới đây gọi là người sử dụng đất - để sử dụng ổn định, lâu dài... Người đang sử dụng đất đai hợp pháp được tiếp tục sử dụng theo quy định của Luật này” (Điều 1 Luật Đất đai năm 1987); “Nhà nước giao đất cho các tổ chức kinh tế, đơn vị vũ trang nhân dân... Tổ chức, hộ gia đình và cá nhân được Nhà nước giao đất, cho thuê đất, nhận quyền sử dụng đất từ người khác trong Luật này gọi chung là người sử dụng đất” (Điều 1 Luật Đất đai năm 1993, sửa đổi năm 1998); “người sử dụng đất” - không có định nghĩa (Điều 2 Luật Đất đai năm 2003, Điều 2 Luật Đất đai năm 2013).

Ủy ban nhân dân huyện Cát Hải (người bị kiện) cho rằng: Ủy ban nhân dân huyện Cát Hải đã phân cấp, giao đất nông nghiệp - nuôi trồng thủy sản - cho tổ chức quản lý, khai thác như Ủy ban nhân dân thị trấn Cát Hải, Công an thị trấn Cát Hải, Đoàn Thanh niên Cộng sản Hồ Chí Minh, cá nhân ông Phạm Văn Phùng (Đầm Trưng Phát), ông Vũ Văn Cường (Đầm Công an), Nguyễn Văn Trường (Đầm Lương Năng). Đối chiếu với quy định của pháp luật đất đai, thì việc phân cấp, giao đất nêu trên là trái quy định của pháp luật về quản lý đất đai.

Người sử dụng đất”: phải là những người (thực tế) trực tiếp sản xuất nông nghiệp - nuôi trồng thủy sản: các hộ gia đình cá nhân người khởi kiện, căn cứ các quy định của Luật Đất đai qua các thời kỳ viện dẫn ở trên. Những “chủ đầm” hiện tại (ông Phạm Văn Bảo - Đầm Trưng Phát, ông Nguyễn Đức Khoát - Đầm Lương Năng, bà Tô Thị Lý - Đầm Công an) chỉ được xác định là người sử dụng đất đối với diện tích đất họ trực tiếp nuôi trồng thủy sản, còn lại những diện tích đất khác họ chỉ là người đứng tên đại diện trên “hợp đồng thuê cơ sở mặt nước”.

Căn cứ theo Điều 203, Điều 204, Điều 205, Điều 206 Luật tố tụng hành chính năm 2015 và nội dung trình bày như trên, chúng tôi đề nghị Tòa án cấp phúc thẩm một số nội dung như sau:

(1) Đề nghị Tòa án nhân dân cấp phúc thẩm tuyên hủy Bản án sơ thẩm được xét xử ngày 13/11/2019 của Tòa án nhân dân thành phố Hải Phòng;

(2) Hủy bỏ một phần các quyết định thu hồi đất phần liên quan tới người khởi kiện, gồm: (i) Quyết định số 1450/QĐ-UBND ngày 04/10/2017 về việc thu hồi đất thực hiện “Dự án xây dựng và kinh doanh cơ sở hạ tầng khu công nghiệp cảng cửa ngõ quốc tế Hải Phòng (giai đoạn 1) do Công ty cổ phần Khu công nghiệp Đình Vũ làm chủ đầu tư”; (ii) Quyết định số 1503/QĐ-UBND ngày 31/10/2018 về việc bổ sung Điều 1 Quyết định số 1450/QĐ-UBND, ngày 04/10/2017 của ủy ban nhân dân huyện Cát Hải; (iii) Quyết định số 949/QĐ-UBND ngày 21/06/2019 về việc hủy bỏ Quyết định số 1503/QĐ-UBND ngày 31/10/2018 của Ủy ban nhân dân huyện Cát Hải.

(3) Đề nghị Tòa án hủy bỏ một phần tại Quyết định số 1457/QĐ-UBND ngày 04/10/2017 về việc phê duyệt phương án bồi thường, hỗ trợ khi Nhà nước thu hồi đất thực hiện Dự án đầu tư Xây dựng và kinh doanh cơ sở hạ tầng khu công nghiệp Cảng cửa ngõ quốc tế Hải Phòng (giai đoạn 1) tại xã Đồng Bài, thị trấn Cát Hải (phần liên quan tới người khởi kiện);

(4) Đề nghị Tòa án giải quyết quyền lợi của người bị thu hồi đất theo quy định của pháp luật: (i) được bồi thường (100%) về đất theo quy định tại Khoản 2 Điều 77 Luật Đất đai năm 2013, (ii) được hỗ trợ đào tạo, chuyển đổi nghề, tìm kiếm việc làm theo quy định tại khoản 1 Điều 84 Luật Đất đai năm 2013.

Xem thêm:


Khuyến nghị của Công ty Luật TNHH Everest:

  1. Bài viết được luật sư, chuyên gia của Công ty Luật TNHH Everest thực hiện nhằm mục đích nghiên cứu khoa học hoặc phổ biến kiến thức pháp luật, hoàn toàn không nhằm mục đích thương mại.
  2. Bài viết có sử dụng những kiến thức hoặc ý kiến của các chuyên gia được trích dẫn từ nguồn đáng tin cậy. Tại thời điểm trích dẫn những nội dung này, chúng tôi đồng ý với quan điểm của tác giả. Tuy nhiên, quý Vị chỉ nên coi đây là những thông tin tham khảo, bởi nó có thể chỉ là quan điểm cá nhân người viết.
  3. Trường hợp cần giải đáp thắc mắc về vấn đề có liên quan, hoặc cần ý kiến pháp lý cho vụ việc cụ thể, Quý vị vui lòng liên hệ với chuyên gia, luật sư của Công ty Luật TNHH Everest qua Tổng đài tư vấn pháp luật: 1900 6198, E-mail:[email protected]