Thừa kế quyền sử dụng đất của bố mẹ để lại nhưng không có di chúc

Hỏi:Bố mẹ tôi sinh được 2 người con. Bố mẹ tôi mất không có di chúc để lại. Tài sản của bố mẹ tôi để lại cho anh em tôi là hai mảnh đất. Mỗi anh em sinh sống trên một mảnh. Từ khi mẹ tôi mất anh em tôi vẫn hòa thuận không có biểu hiện gì về tranh chấp. Đến năm 2012 xã có chỉ thị ai chưa có sổ đỏ thì ra khai, lúc đó tôi mới biết anh tôi làm sổ đỏ rồi, anh ấy làm lúc nào tôi cũng không hay, hai mảnh đất lại cùng chung một sổ đỏ đứng tên anh tôi hết.Tôi xin hỏi luật sư là bố mẹ mất không có di chúc mà anh trai tôi lại làm được sổ đất ở chỉ đứng tên anh ấy mà không có sự đồng ý tôi vậy có được coi là phạm pháp không? Tôi có cách nào để đòi lại quyền lợi của mình không? (Nguyễn Hoằng - Ninh Bình)

>>>Luật sư tư vấn pháp luật qua tổng đài (24/7) gọi: 1900 6198
>>>Luật sư tư vấn pháp luật qua tổng đài (24/7) gọi: 1900 6198

Luật gia Bùi Ánh Vân - Tổ tư vấn pháp luật thừa kế của Công ty Luật TNHH Everest - trả lời:

Theo như thông tin mà bạn cung cấp thì bố mẹ bạn mất không để lại di chúc, theo đó toàn bộ di sản của bố mẹ bạn để lại sẽ được chia theo pháp luật theo hàng thừa kế

Điều676 Bộ luật Dân sự năm 2005 quy định về Người thừa kế theo pháp luật

"1. Những người thừa kế theo pháp luật được quy định theo thứ tự sau đây: a) Hàng thừa kế thứ nhất gồm: vợ, chồng, cha đẻ, mẹ đẻ, cha nuôi, mẹ nuôi, con đẻ, con nuôi của người chết; b) Hàng thừa kế thứ hai gồm: ông nội, bà nội, ông ngoại, bà ngoại, anh ruột, chị ruột, em ruột của người chết; cháu ruột của người chết mà người chết là ông nội, bà nội, ông ngoại, bà ngoại; c) Hàng thừa kế thứ ba gồm: cụ nội, cụ ngoại của người chết; bác ruột, chú ruột, cậu ruột, cô ruột, dì ruột của người chết; cháu ruột của người chết mà người chết là bác ruột, chú ruột, cậu ruột, cô ruột, dì ruột, chắt ruột của người chết mà người chết là cụ nội, cụ ngoại.

2. Những người thừa kế cùng hàng được hưởng phần di sản bằng nhau.

3. Những người ở hàng thừa kế sau chỉ được hưởng thừa kế, nếu không còn ai ở hàng thừa kế trước do đã chết, không có quyền hưởng di sản, bị truất quyền hưởng di sản hoặc từ chối nhận di sản".

Như vậy, di sản thừa kế của bố mẹ bạn sẽ được chia đều cho 2 bạn. Anh bạn không có quyền thừa kế phần đất của bạn,

Bạn muốn đòi lại phần đất xứng đáng thuộc về bạn?

Căn cứ vào Điều 645 BLDSquy định về thời hiệu khởi kiện về thừa kế

“Thời hiệu khởi kiện để người thừa kế yêu cầu chia di sản, xác nhận quyền thừa kế của mình hoặc bác bỏ quyền thừa kế của người khác là mười năm, kể từ thời điểm mở thừa kế.

Thời hiệu khởi kiện để yêu cầu người thừa kế thực hiện nghĩa vụ về tài sản của người chết để lại là ba năm, kể từ thời điểm mở thừa kế”.

Nếu thời hiệu khởi kiện vẫn còn bạn có quyền khởi kiện yêu cầu tòa án giải quyết quyền lợi cho bạn.

Về việc anh bạn đứng tên trên sổ đỏ có hợp pháp hay không?

Sau khi bố mẹ bạn mất, bạn và anh bạn tiếp tục sinh sống ổn định trên 2 mảnh đất mà bố mẹ bạn để lại, không có tranh chấp chia di sản nên có thể coi 2 mảnh đất này là tài sản thừa kế chung của hai anh em bạn. Vì thế, khi anh bạn thực hiện thủ tục sang tên trên giấy chứng nhận quyển sử dụng đất thì phải có giấy tờ hợp pháp về thừa kế (ví dụ như: di chúc, văn bản thỏa thuận giữa những người cùng thừa kế, văn bản từ chối hưởng di sản thừa kế,…) để chứng minh anh bạn có quyền thừa kế đối với toàn bộ hai mảnh đất trên, căn cứ điểm c Khoản 1 Điều 100 Luật Đất đại 2013. Do đó, việc anh bạn đi thực hiện việc sang tên trên giấy chứng nhận quyền sử dụng đối với hai mảnh đất mà bố mẹ bạn để lại nếu không có các giấy tờ hợp pháp về thừa kế là trái pháp luật. Vì vậy, giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đối với hai mảnh đất trên đứng tên anh bạn sẽ không có hiệu lực pháp luật.

Khuyến nghị:

  1. Để có ý kiến tư vấn chính xác và cụ thể hơn, Quý vị vui lòng liên hệ với các Luật sư chuyên gia của Công ty Luật TNHH Everest qua Tổng đài tư vấn pháp luật 1900 6198, hoặc E-mail: [email protected]
  2. Nội dung bài tư vấn pháp luật thừa kế mà Công ty Luật TNHH Everest cung cấp, Quý vị chỉ nên xem như nguồn tài liệu tham khảo.
  3. Tại thời điểm quý Vị đọc bài viết này, các điều luật chúng tôi viện dẫn có thể đã hết hiệu lực, hoặc đã được sửa đổi, bổ sung; các thông tin trong tình huống là cá biệt. Do đó, chúng tôi không đảm bảo những thông tin này có thể áp dụng cho mọi trường hợp, mọi đối tượng, ở mọi thời điểm.