Đất sử dụng sai mục đích bị xử lý như thế nào?

Việc chuyển mục đích sử dụng đất nông nghiệp không phải là đất trồng lúa, đất trồng rừng mà chưa được cơ quan nhà nước có thẩm quyền cho phép có thể bị phạt lên đến 10.000.000 đồng và khôi phục lại tình trạng ban đầu của đất.

Hỏi:Vào khoảng năm 2004, tôi có nhượng cho ông T mảnh đất diện tích 31m x 3,5m. Ông T cất nhà tường trên đất trồng cây lâu năm, chưa có giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, đất trong quy hoạch treo (quy hoạch giai đoạn). Đến năm 2015, ông được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất là đất trồng cây lâu năm.Năm 2016, vì tranh chấp lối đi với tôi do tôi cất 1 căn nhà tiền chế liền kề đất của ông(ông định chiếm phần lối đi này để làm nhà vệ sinh, cản trở tôi đi lại mặc dù phần đất này là thuộc quyền sở hữu của tôi). Ông T đã thưa tôi cất nhà trái phép trên đất trồng cây lâu năm. Tôi đã bị UBND thành phố ra quyết định xử phạt vi phạm hành chính và buộc tháo dỡ trong 30 ngày. Tôi định làm đơn thưa lại ông T không vì ông cũng cất nhà trái phép. Tuy nhiên ông T cho rằng vì ông cất nhà lâu năm rồi nên không bị xử phạt vi phạm hành chính và không bị buộc tháo dỡ như trường hợp của tôi. Xin hỏi Luật sư, lý do của ông Tcó đúng hay không? (Tùng Bách - Thái Nguyên)

>>>Luật sư tư vấn pháp luật qua tổng đài (24/7) gọi: 1900 6198
>>>Luật sư tư vấn pháp luật qua tổng đài (24/7) gọi: 1900 6198

Luật gia Bùi Ánh Vân - Tổ tư vấn pháp luật bất động sản của Công ty Luật TNHH Everest - trả lời:

Theo như bạn trình bày, mảnh đất ông T được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất là đất trồng cây lâu năm. Do đó, ông T không được xây nhà trên đất trồng cây lâu năm theo khoản 1 Điều 170 Luật đất đai 2013 về nghĩa vụ của người sử dụng đất như sau:

"1. Sử dụng đất đúng mục đích, đúng ranh giới thửa đất, đúng quy định về sử dụng độ sâu trong lòng đất và chiều cao trên không, bảo vệ các công trình công cộng trong lòng đất và tuân theo các quy định khác của pháp luật có liên quan".

Căn cứ vàoquy định trên, bạn có thể báolên UBND xã về việc ông T sử dụng đất sai mục đích. Ông T có thể bị xử phạt hành chính theo khoản 2 Điều 8 Nghị định 102/2014/NĐ-CP:

Điều 8. Chuyển mục đích sử dụng đất nông nghiệp không phải là đất trồng lúa, đất rừng phòng hộ, đất rừng đặc dụng mà không được cơ quan nhà nước có thẩm quyền cho phép

"2. Chuyển mục đích sử dụng đất nông nghiệp không phải là đất trồng lúa, đất rừng phòng hộ, đất rừng đặc dụng sang đất phi nông nghiệp thì hình thức và mức xử phạt như sau: a) Phạt tiền từ 1.000.000 đồng đến 2.000.000 đồng nếu diện tích đất chuyển mục đích trái phép dưới 0,5 héc ta; b) Phạt tiền từ trên 2.000.000 đồng đến 5.000.000 đồng nếu diện tích đất chuyển mục đích trái phép từ 0,5 héc ta đến dưới 03 héc ta; c) Phạt tiền từ trên 5.000.000 đồng đến 10.000.000 đồng nếu diện tích đất chuyển mục đích trái phép từ 03 héc ta trở lên". (Khoản 2 Điều 8)

"3. Biện pháp khắc phục hậu quả: a) Buộc khôi phục lại tình trạng của đất trước khi vi phạm đối với hành vi quy định tại Khoản 1 và Khoản 2 Điều này; b) Buộc nộp lại số lợi bất hợp pháp có được do thực hiện hành vi vi phạm quy định tại Khoản 1 và Khoản 2 Điều này". (Khoản 3 Điều 8)

Khuyến nghị:

  1. Để có ý kiến tư vấn chính xác và cụ thể hơn, Quý vị vui lòng liên hệ với các Luật sư chuyên gia của Công ty Luật TNHH Everest qua Tổng đài tư vấn pháp luật 1900 6198, hoặc E-mail: inf[email protected]
  2. Nội dung bài tư vấn pháp luật bất động sản mà Công ty Luật TNHH Everest cung cấp, Quý vị chỉ nên xem như nguồn tài liệu tham khảo.
  3. Tại thời điểm quý Vị đọc bài viết này, các điều luật chúng tôi viện dẫn có thể đã hết hiệu lực, hoặc đã được sửa đổi, bổ sung; các thông tin trong tình huống là cá biệt. Do đó, chúng tôi không đảm bảo những thông tin này có thể áp dụng cho mọi trường hợp, mọi đối tượng, ở mọi thời điểm.