Chuyển nhượng nhà đất thuộc sở hữu chung của vợ chồng

Gia đình bạn có mua một mảnh đất để ở, mảnh đất này có trong thời kỳ hôn nhân, vì vậy, được xác định là tài sản chung của vợ chồng. Khi chồng bạn muốn chuyển nhượng quyền sử dụng đất này cho người khác phải được sự đồng ý của bạn.

Hỏi: Gia đình tôi có mua một mảnh đất để ở nhưng chồng tôi lại đem bán trong khi đó tôi và các con tôi không hề hay biết. Xin hỏi Luật sư, chồng tôi có đươc phép bán khi tôi và các con tôi không được biết hay không ? Tôi phải làm gì khi mảnh đất đó đã được sang tên cho người khác rồi? (Nguyễn Thanh An - Hà Giang)

>>> Luật sư tư vấn pháp luật qua tổng đài (24/7) gọi: 1900 6198
>>> Luật sư tư vấn pháp luật qua tổng đài (24/7) gọi: 1900 6198

Luật gia Trần Thu Trang - Tổ tư vấn pháp luật bất động sản của Công ty Luật TNHH Everest - trả lời:

Gia đình bạn có mua một mảnh đất để ở, mảnh đất này có trong thời kỳ hôn nhân, vì vậy, được xác định là tài sản chung của vợ chồngng theo quy định tại Khoản 1 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014:
Quyền sử dụng đất mà vợ chồng có được sau khi kết hôn là tài sản chung của vợ chồng, trừ trường hợp vợ hoặc chồng được thừa kế riêng, được tặng cho riêng hoặc có được thông qua giao dịch tài sản riêng”.

Vì vậy, theo quy định pháp luật tại Điểm a Khoản 2 Điều 35 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014:
Việc định đoạt tài sản chung phải có sự thỏa thuận bằng văn bản của vợ chồng”.

Đồng thời, căn cứ theo quy định tại Khoản 2 Điều 219 Bộ Luật dân sự năm 2005:
Vợ chồng cùng bàn boạc, thỏa thuận hoặc ủy quyền cho nhau chiếm hữu, sử dụng, định đoạt tài sản chung”.

Như vậy, khi chồng bạn bán mảnh đất cho người khác mà không có sự đồng ý của bạn là trái pháp luật.

Đồng thời,Theo quy định tại khoản 2, Điều 689, Bộ luật Dân sự năm 2005

Hợp đồng chuyển quyền sử dụng đất phải được lập thành văn bản, có công chứng, chứng thực theo quy định của pháp luật.
Trong trường hợp này, chồng bạn đã sang tên cho người khác, thì hợp đồng này phát sinh hiệu lực khi hợp đồng đã được công chứng. Tuy nhiên, nếu văn phòng công chứng mà công chứng hợp đồng mua bán trên trong khi không có sự đồng ý bằng văn bản của bạn là vi phạm pháp luật.Hợp đồng mua bán mảnh đất trên sẽ bị vô hiệu căn cứ theo quy định tại Khoản 2 Điều 124 Bộ Luật dân sự năm 2005. Để lấy lại mảnh đất, bạn có thể khởi kiện để yêu cầu tòa án tuyên bố hợp đồng vô hiệu. Theo đó, khi hợp đồng vô hiệu thì hai bên sẽ phải hoàn trả lại cho nhau những gì đã nhận.

Khuyến nghị:
  1. Để có ý kiến tư vấn chính xác và cụ thể hơn, Quý vị vui lòng liên hệ với các Luật sư chuyên gia của Công ty Luật TNHH Everest qua Tổng đài tư vấn pháp luật 1900 6198, hoặc E-mail: [email protected]
  2. Nội dung bài tư vấn pháp luật bất động sản mà Công ty Luật TNHH Everest cung cấp, Quý vị chỉ nên xem như nguồn tài liệu tham khảo.
  3. Các điều luật chúng tôi viện dẫn trong bài viết có thể đã hết hiệu lực hoặc đã được sửa đổi, bổ sung. Các thông tin trong tình huống là cá biệt. Do đó, Chúng tôi không đảm bảo những thông tin này có thể áp dụng cho mọi trường hợp, mọi đối tượng, ở mọi thời điểm.