Thu hồi đất sạt lở tại Quảng Ninh: thu 'đất ở', thu luôn 'đất nông nghiệp'

Công ty Luật TNHH Everest cung cấp dịch vụ pháp lý bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của một số hộ dân sinh sống tại Tổ 30, khu 4A, phường Hà Phong, thành phố Hạ Long (Quảng Ninh). Các hộ dân cho rằng, nhà và đất của họ đã bị Nhà nước thu hồi nhưng bồi thường trái luật.

Mặc dù căn cứ pháp lý để Ủy ban nhân dân thành phố Hạ Long đưa ra để thu hồi đất thực hiện: “Dự án thu hồi các thửa đất sạt lở, vị trí nguy hiểm không thể ở, đe dọa tính mạng con người và tài sản của các hộ gia đình, cá nhân tại phường Hà Phong, thành phố Hạ Long, tỉnh Quảng Ninh do Công ty Cổ phần Than Hà Tu - Vinacomin làm chủ đầu tư”Điểm e Khoản 1 Điều 65 Luật Đất đai năm 2013: “Các trường hợp thu hồi đất do… có nguy cơ đe dọa tính mạng con người bao gồm: Đất ở có nguy cơ sạt lở, sụt lún, bị ảnh hưởng bởi hiện tượng thiên tai khác đe dọa tính mạng con người”.

Thế nhưng, thực tế, ngoài 'đất ở', Ủy ban nhân dân thành phố Hạ Long còn 'thu' cả 'đất nông nghiệp' - không thuộc phạm vi quy định tại Điểm e Khoản 1 Điều 65 Luật Đất đai năm 2013.

Luật đất đai cho phép thu hồi đất ở sạt lở, nhưng Ủy ban nhân dân thành phố Hạ Long thu hồi cả đất nông nghiệp
Luật đất đai chỉ cho phép thu hồi 'đất sạt lở' là 'đất ở', nhưng thực tế cả đất nông nghiệp đã bị thu hồi

Ngày 06/07/2017, Ủy ban nhân dân thành phố Hạ Long ban hành Quyết định số 6871/QĐ-UBND về việc “phê duyệt phương án bổ sung hỗ trợ ngoài chính sách thu hồi các thửa đất sạt lở, vị trí nguy hiểm không để ở, đe dọa tính mạng con người và tài sản của các hộ gia đình, cá nhân tại phường Hà Phong, thành phố Hạ Long”.

Thực tế rằng, Công ty Cổ phần Than Hà Tu - Vinacomin đã sử dụng Quyết định số 6871/QĐ-UBND như quyết định bồi thường, hỗ trợ thu hồi đất. Do đó Công ty Cổ phần Than Hà Tu - Vinacomin không cần thỏa thuận với hộ gia đình, cá nhân có đất nông nghiệp bị thu hồi. Đồng thời, hộ gia đình ông Vũ Bá Quy và bà Nguyễn Thị Liền buộc phải chấp hành việc bị “thu hồi đất” (Thửa đất số 16 + 81) và nhận tiền “hỗ trợ ngoài chính sách”.

Bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của người khởi kiện - ông Vũ Bá Quy và bà Nguyễn Thị Liền trong vụ án hành chính do Tòa án nhân dân tỉnh Quảng Ninh thụ lý, giải quyết (số 69/2018/TLST-HC ngày 22/06/2019), Công ty Luật TNHH Everest đưa ra quan điểm:

Thứ nhất, Quyết định số 6871/QĐ-UBND do Ủy ban nhân dân thành phố Hạ Long ban hành không có căn cứ pháp luật.

Quyết định số 6871/QĐ-UBND căn cứ Luật đất đai năm 2013, Nghị định số 43/2013/NĐ-CP và một số các văn bản quy phạm pháp luật, văn bản hành chính có liên quan đến Dự án như: Thông báo số 239/TB-UBND ngày 08/06/2016 của Ủy ban nhân dân thành phố Hạ Long về việc thu hồi hộ gia đình, cá nhân phường Hà Phong thuộc diện GPMB dự án: Thu hồi các thửa đất sạt lở, vị trí nguy hiểm không thể ở, đe dọa tính mạng con người và tài sản của 28 hộ gia đình, cá nhân tại phường Hà Phong, thành phố Hạ Long; Quyết định số 165/QĐ-UBND ngày 19/08/2015 của Ủy ban nhân dân thành phố Hạ Long về việc thành lập Hội đồng xét duyệt thu hồi đất đối với các thửa đất thuộc khu vực sạt lở, sụt lún, nguy hiểm, đe dọa tính mạng con người và tài sản trên địa bàn thành phố Hạ Long; Văn bản số 6158/UBND ngày 24/12/2015 của UBND thành phố Hạ Long về việc giải quyết di dời, thu hồi đất sạt lở, vị trí nguy hiểm không thể ở, đe dọa tính mạng con người và tài sản trên địa bàn thành phố Hạ Long; Văn bản số 419/UBND ngày 25/01/2016 của Ủy ban nhân dân thành phố Hạ Long về việc bố tri tái định cư cho các hộ dân thuộc diện di dời do thửa đất sạt lở, vị trí nguy hiểm không thể ở, đe dọa tính mạng con người và tài sản; Quyết định số 2877/QĐ-UBND ngày 07/09/2016 về việc phê duyệt giá đất cụ thể làm căn cứ bồi thường và bố trí tái định cư cho các hộ phải di dời do sử dụng các thửa đất sạt lở, vị trí nguy hiểm không thể ở, đe dọa tính mạng con người tại phường Hà Phong; Văn bản số 2173/UBND ngày 28/03/2017 của Ủy ban nhân dân thành phố Hạ Long về việc bồi thường, GPMB thực hiện dự án thu hồi các thửa đất sạt lở, vị trí nguy hiểm không để ở, đe dọa tính mạng con người và tài sản của 28 hộ gia đình, cá nhân tại phường Hà Phong).

Tuy nhiên, cần thấy rằng, Luật Đất đai năm 2013, cụ thể là Chương 6 (các điều từ Điều 61 đến Điều 94) quy định rất rõ ràng về việc “thu hồi đất, trưng dụng đất, bồi thường, hỗ trợ, tái định cư”.

Đối chiếu với quy định của pháp luật thì thấy rằng: Thửa đất số 16 + 18 tờ bản đồ GPMB của hộ gia đình ông Vũ Bá Quy và bà Nguyễn Thị Liền có diện tích đất 203,2 m2 là đất nông nghiệp (trồng cây lâu năm, ký hiệu: CLN), không thuộc trường hợp quy định tại Điểm e Khoản 1 Điều 65 Luật Đất đai năm 2013 (Đất ở có nguy cơ sạt lở, sụt lún, bị ảnh hưởng bởi hiện tượng thiên tai khác đe dọa tính mạng con người), cũng không thuộc bất cứ trường hợp thu hồi đất nào khác trong từ Điều 61 đến Điều 65 Chương 6 Luật Đất đai; Và: đã không thuộc trường hợp “thu hồi đất”, thì các vấn đề liên quan: “bồi thường, hỗ trợ, tái định cư” sẽ không thể đặt ra.

Do đó, Công ty Luật TNHH Everest xác định rằng, Ủy ban nhân dân thành phố Hạ Long đã ban hành Quyết định số 6871/QĐ-UBND (một quyết định hành chính) liên quan tới thu hồi đất, bồi thường, hỗ trợ tái định cư là hoàn toàn không có căn cứ pháp luật.
Công ty Luật TNHH Everest - Luật sư tư vấn pháp luật đất đai - Tổng đài (24/7): 1900 6198
Công ty Luật TNHH Everest - Luật sư tư vấn pháp luật đất đai - Tổng đài (24/7): 1900 6198

Thứ hai, trên thực tế việc thực hiện Quyết định số 6871/QĐ-UBND - “hỗ trợ ngoài chính sách thu hồi các thửa đất sạt lở” - bản chất là dùng quyết định hành chính để can thiệp vào 'giao dịch dân sự'.

Chúng tôi lưu ý rằng, những nội dung có trong Quyết định số 6871/QĐ-UBND thể hiện dưới hình thức văn bản khác (quyết định nội bộ, văn bản hướng dẫn…) thuộc phạm vi nội bộ của Ủy ban nhân dân thành phố Hạ Long, hoặc chỉ giữa Ủy ban nhân dân thành phố Hạ Long với Công ty Cổ phần Than Hà Tu - Vinacomin mà không liên quan tới các đối tượng khác, thì Quyết định số 6871/QĐ-UBND đã không thuộc đối tượng khởi kiện của vụ án hành chính và Tòa án nhân dân tỉnh Quảng Ninh đã không có căn cứ để thụ lý vụ án này.

Tuy nhiên, Quyết định số 6871/QĐ-UBND là quyết định hành chính của Ủy ban nhân dân thành phố Hạ Long - cơ quan nhà nước - ban hành, “quyết định về vấn đề cụ thể trong hoạt động quản lý hành chính” (Khoản 1, Khoản 2 Điều 3 Luật Tố tụng hành chính), có hiệu lực bắt buộc đối với các đối tượng có liên quan trong đó có hộ gia đình ông Vũ Bá Quy và bà Nguyễn Thị Liền.

Trong phạm vi vụ án hành chính này, Ủy ban nhân dân thành phố Hạ Long đã nhiều lần khẳng định: Ủy ban nhân dân thành phố Hạ Long không thu hồi Thửa đất số 16 + 81 tờ bản đồ GPMB của hộ gia đình ông Vũ Bá Quy và bà Nguyễn Thị Liền. Tuy nhiên, thực tế rằng, Công ty Cổ phần Than Hà Tu - Vinacomin đã sử dụng Quyết định số 6871/QĐ-UBND như quyết định bồi thường, hỗ trợ thu hồi đất. Do đó Công ty Cổ phần Than Hà Tu - Vinacomin không cần thỏa thuận với hộ gia đình, cá nhân có đất nông nghiệp bị thu hồi. Đồng thời, hộ gia đình ông Vũ Bá Quy và bà Nguyễn Thị Liền buộc phải chấp hành việc bị “thu hồi đất” (Thửa đất số 16 + 81) và nhận tiền “hỗ trợ ngoài chính sách”.

Tại Bản tự khai ngày 10/08/2018 của ông Hoàng Quang Hải - Phó chủ tịch Ủy ban nhân dân thành phố Hạ Long - người được ủy quyền tham gia tố tụng - trình bày như sau: “… đối với 22 hộ dân tại tổ 30 khu 4A phường Hà Phong phía dưới đường công vụ của Công ty Cổ phần Than Hà Tu - Vinacomin: Do vị trí này có nguy cơ sạt lở cao, bị ảnh hưởng của bụi, đất đá rơi vãi phát sinh do các phương tiện mỏ lưu thông trên đường Công vụ. Về lâu dài, để đảm bảo an toàn cho các hộ dân, giao Phòng Quản lý đô thị đề xuất phương án di dời 22 hộ dân để bàn giao diện tích đất cho Công ty Cổ phần Than Hà Tu - Vinacomin quản lý (trên cơ sở Công ty Cổ phần Than Hà Tu - Vinacomin chi trả toàn bộ chi phí di dời, giải phóng mặt bằng)”.

Công ty Cổ phần Than Hà Tu - Vinacomin trong bản tự khai và các buổi đối thoại đã xác nhận: không thực hiện thỏa thuận với người có đất nằm trong Dự án thu hồi đất bởi Công ty Cổ phần Than Hà Tu - Vinacomin thực hiện theo các quyết định của Ủy ban nhân dân thành phố Hạ Long.

Như vậy, Công ty Cổ phần Than Hà Tu - Vinacomin đã sử dụng Quyết định số 6871/QĐ-UBND như một “công cụ” để ép buộc ông Vũ Bá Quy và bà Nguyễn Thị Liền và một số hộ gia đình, cá nhân khác nhận tiền chi trả “hỗ trợ ngoài chính sách” - mà không phải là thỏa thuận để nhận chuyển nhượng lại quyền sử dụng đất thửa đất thực hiện Dự án đầu tư. Điều này, ngoài việc trái pháp luật đã ảnh hưởng trực tiếp tới quyền và lợi ích hợp pháp của ông Vũ Bá Quy, bà Nguyễn Thị Liền. Do đó, chúng tôi đề nghị Tòa án nhân dân tỉnh Quảng Ninh tuyên bố: giao dịch căn cứ vào Quyết định số 6871/QĐ-UBND hoặc liên quan tới Quyết định số 6871/QĐ-UBND là không có căn cứ của pháp luật, vi phạm sự tự nguyện, phải hủy bỏ.

Hộ gia đình ông Vũ Bá Quy và bà Nguyễn Thị Liền sẽ trả lại số tiền "hỗ trợ ngoài chính sách" cho Công ty Cổ phần Than Hà Tu - Vinacomin, đề xuất với Công ty Cổ phần Than Hà Tu - Vinacomin về phương án và giá chuyển nhượng quyền sử dụng đất của Thửa đất số 16 + 81 tờ bản đồ GPMB theo quy định của pháp luật dân sự.

Thứ ba, kiến nghị Tòa án nhân dân tỉnh Quảng Ninh xem xét vụ án trong tổng thể Dự án thu hồi đất, để đảm bảo việc thu hồi đất, bồi thường, hỗ trợ, tái định cư đúng pháp luật.

Căn cứ cho kiến nghị nêu trên là các quy định của Luật Tố tụng hành chính năm 2015:

(i) Quy định về xem xét, xử lý văn bản quy phạm pháp luật, văn bản hành chính, hành vi hành chính có liên quan trong vụ án hành chính, cụ thể: “Trong quá trình giải quyết vụ án hành chính, Tòa án có quyền xem xét về tính hợp pháp của văn bản hành chính, hành vi hành chính có liên quan đến quyết định hành chính, hành vi hành chính bị kiện và kiến nghị cơ quan, tổ chức, cá nhân có thẩm quyền xem xét lại văn bản hành chính, hành vi hành chính đó và trả lời kết quả cho Tòa án theo quy định của Luật này và quy định khác của pháp luật có liên quan” (khoản 1 Điều 6).

(ii) Quy định nhiệm vụ, quyền hạn của thẩm phán: “Khi được Chánh án Tòa án phân công, Thẩm phán có những nhiệm vụ, quyền hạn sau đây:… 12. Xem xét về tính hợp pháp của văn bản hành chính, hành vi hành chính có liên quan đến quyết định hành chính, hành vi hành chính bị kiện và đề nghị Chánh án Tòa án kiến nghị với cơ quan, cá nhân có thẩm quyền xem xét văn bản hành chính, hành vi hành chính đó theo quy định của pháp luật” (khoản 12 Điều 38).

Từ các căn cứ, Công ty Luật TNHH Everest kiến nghị:

1) Trong phạm vi của Quyết định số 6871/QĐ-UBND, song song với việc hủy bỏ Quyết định số 6871/QĐ-UBND không có căn cứ pháp luật, kiến nghị Tòa án nhân dân tỉnh Quảng Ninh kiến nghị với Ủy ban nhân dân thành phố Hạ Long yêu cầu Công ty Cổ phần Than Hà Tu - Vinacomin thực hiện thỏa thuận với hộ gia đình ông Vũ Bá Quy, bà Nguyễn Thị Liền, nhận chuyển nhượng lại Thửa đất số 16 + 18 tờ bản đồ GPMB theo đúng quy định của pháp luật dân sự (trình bày trên).

2) Trong tổng thể “Dự án thu hồi các thửa đất sạt lở, vị trí nguy hiểm không thể ở, đe dọa tính mạng con người và tài sản của các hộ gia đình, cá nhân tại phường Hà Phong, thành phố Hạ Long, tỉnh Quảng Ninh do Công ty Cổ phần Than Hà Tu - Vinacomin làm chủ đầu tư” - đây là một Dự án kinh tế:

Ngày 21/11/2012, Thủ tướng Chính phủ ban hành Quyết định số 1776/QĐ-TTg, phê duyệt Chương trình Bố trí dân cư các vùng: Thiên tai, đặc biệt khó khăn, biên giới, hải đảo, di cư tự do, khu rừng đặc dụng giai đoạn 2013 - 2015 và định hướng đến năm 2020 (gọi tắt là Chương trình Bố trí dân cư).

Mục tiêu chung của Chương trình Bố trí dân cư: Thực hiện quy hoạch, bố trí ổn định dân cư tại các vùng: Thiên tai, đặc biệt khó khăn, biên giới, hải đảo, ổn định dân di cư tự do, khu rừng đặc dụng, nhằm ổn định và nâng cao đời sống của người dân, hạn chế tới mức thấp nhất thiệt hại do thiên tai, di cư tự do; giải quyết việc làm, tăng thu nhập, góp phần giảm nghèo, bảo vệ môi trường và củng cố an ninh, quốc phòng (Điểm a Khoản 1 Điều 1).

Chương trình Bố trí dân cư này áp dụng cho việc: bố trí ổn định dân cư theo quy hoạch, kế hoạch của Nhà nước tại các vùng: Thiên tai (sạt lở đất, sụt lún đất, lốc xoáy, lũ quét, lũ ống, ngập lũ, xâm nhập mặn, sóng thần, nước biển dâng); đặc biệt khó khăn (thiếu đất, thiếu nước sản xuất, nước sinh hoạt, thiếu cơ sở hạ tầng, tác động phóng xạ, ô nhiễm môi trường, các làng chài trên sông nước, đầm phá); biên giới, hải đảo (gồm cả khu kinh tế quốc phòng); vùng di cư tự do đến đời sống quá khó khăn và khu rừng đặc dụng trên địa bàn cả nước đến năm 2015 và định hướng đến năm 2020 (Điểm a Khoản 2 Điều 1). Riêng đối với trường hợp 'Thiên tai' thì đối tượng áp dụng của Chương trình Bố trí dân cư là: Hộ gia đình bị mất nhà ở, đất ở, đất sản xuất do sạt lở đất, lũ quét, lũ ống, sụt lún đất, lốc xoáy; hộ gia đình sinh sống ở vùng có nguy cơ bị sạt lở đất, lũ quét, lũ ống, sụt lún đất, ngập lũ, lốc xoáy, sóng thần, xâm nhập mặn, nước biển dâng (Điểm b Khoản 2 Điều 1).

Ngày 04/05/2016, Ủy ban nhân dân tỉnh Quảng Ninh căn cứ Quyết định số 1776/QĐ-TTg đã ban hành Quyết định số 1357/QĐ-UBND về việc phê duyệt “Đề án di dân tổng thể ra khỏi vùng sạt lở, ngập lụt nguy hiểm và quy hoạch bố trí dân cư phòng tránh thiên tai trên địa bàn tỉnh Quảng Ninh giai đoạn 2016-2020 và định hướng đến năm 2025”.

Trong Đề án di dân tổng thể nêu rõ: về phạm vi và đối tượng áp dụng Di dân ra khỏi khu vực sạt lở, ngập nguy hiểm chân bãi thải, khai trường khai thác than và các khu vực sạt lở, ngập lụt nguy hiểm khác khi có mưa lũ. Tập trung vào các đối tượng, khu vực bị ảnh hưởng trong đợt mưa lũ lịch sử cuối tháng 07, đầu tháng 08/2015 (đoạn 2 Điểm a Mục 1.2 Điều 1).

Lưu ý rằng, Đề án di dân tổng thể này không áp dụng cho các trường hợp sau: (i) Các trường hợp di dân các vùng thiên tai đột xuất, đặc biệt khó khăn, biên giới, hải đảo, di cư tự do, khu rừng đặc dụng; (ii) Các dự án đầu tư công trình nâng cấp, sửa chữa, xây mới đê, cống, kênh tưới tiêu, đê biển, kè bảo vệ bờ sông, hồ chứa, đập; các công trình không nhằm mục đích khắc phục hậu quả, thiệt hại trong đợt mưa lũ lịch sử cuối tháng 07, đầu tháng 08/2015 (đoạn 3 Điểm a Mục 1.3 Điều 1).

Thế nhưng không rõ vì sao trong Đề án di dân tổng thể (tại Phụ lục I) lại nội dung: Di dời, bố trí tái định cư cho 29 hộ dân (90 nhân khẩu) tại phường Hà Phong nằm trong khu vực có nguy cơ sạt lở, ngập lụt nguy hiểm do ảnh hưởng tuyến đường từ khai trường mỏ Hà Tu sang mỏ than Núi Béo (hình thức tái định cư tập trung). Trong khi đó, bản chất thật sự của “sạt lở, ngập lụt nguy hiểm” đã được ghi rõ trong Phụ lục I là “do ảnh hưởng tuyến đường từ khai trường mỏ Hà Tu sang mỏ than Núi Béo” (tức là 'Nhân họa'), mà không phải do 'Thiên tai'. Vậy là, có xuất phát điểm từ Đề án di dân tổng thể - ý nghĩa xã hội cao, thì 'Dự án thu hồi các thửa đất sạt lở...', đã không còn là 'Dự án xã hội' - mà bản chất là 'Dự án kinh tế'.

Do đó, kiến nghị Tòa án nhân dân tỉnh Quảng Ninh xem xét kiến nghị Ủy ban nhân dân thành phố Hạ Long yêu cầu Công ty Cổ phần Than Hà Tu - Vinacomin đàm phán, thoả thuận với người sử dụng đất về giá đất, không thể “mập mờ” giữa việc bồi thường, hỗ trợ khi thu hồi đất theo Điểm e Khoản 1 Điều 65 Luật Đất đai năm 2013 và việc thỏa thuận nhận chuyển nhượng đất trong Dự án kinh tế mà Công ty Cổ phần Than Hà Tu - Vinacomin là Chủ đầu tư.

Từ các căn cứ đã trình bày trên, Công ty Luật TNHH Everest đề nghị Tòa án nhân dân tỉnh Quảng Ninh:

1) Hủy Quyết định số 6871/QĐ-UBND ngày 06/07/2017 của Ủy ban nhân dân thành phố Hạ Long về việc phê duyệt phương án bổ sung hỗ trợ ngoài chính sách thu hồi các thửa đất sạt lở, vị trí nguy hiểm không để ở, đe dọa tính mạng con người và tài sản của các hộ gia đình, cá nhân tại phường Hà Phong, thành phố Hạ Long (phần liên quan trực tiếp tới quyền và lợi ích hợp pháp của người khởi kiện: ông Vũ Bá Quy và bà Nguyễn Thị Liền);

2) Kiến nghị Tòa án nhân dân tỉnh Quảng Ninh, căn cứ các quy định của Luật Tố tụng hành chính năm 2015 (Khoản 1 Điều 6, Khoản 12 Điều 38) xem xét vụ án trong tổng thể “Dự án thu hồi các thửa đất sạt lở, vị trí nguy hiểm không thể ở, đe dọa tính mạng con người và tài sản của các hộ gia đình, cá nhân tại phường Hà Phong, thành phố Hạ Long, tỉnh Quảng Ninh do Công ty Cổ phần Than Hà Tu - Vinacomin làm chủ đầu tư”, để đảm bảo việc thu hồi đất, bồi thường, hỗ trợ, tái định cư đảm bảo đúng quy định của pháp luật.