Nguyên tắc suy đoán vô tội trong pháp luật tố tụng hình sự Việt nam

Người bị buộc tội được coi là không có tội cho đến khi được chứng minh theo trình tự, thủ tục và có bản án kết tội của tòa án đã có hiệu lực pháp luật. Khi không đủ căn cứ để buộc tội, kết tội theo trình tự, thủ tục thì phải kết luận người bị buộc tội không có tội.

Trước thời điểm Hiến pháp năm 2013 được ban hành, thuật ngữ “suy đoán vô tội” chưa được ghi nhận chính thức trong các bản Hiến pháp và Bộ luật Tố tụng hình sự. Tuy nhiên, tinh thần của “nguyên tắc suy đoán vô tội” đã được thừa nhận như một trong những nguyên tắc cơ bản của pháp luật tố tụng hình sự Việt Nam.

Pháp luật Việt Nam hiện hành, nguyên tắc suy đoán vô tội thể hiện ở các nội dung sau:


>>>Luật sư tư vấn pháp luật qua tổng đài (24/7) gọi: 1900 6198

>>>Luật sư tư vấn pháp luật qua tổng đài (24/7) gọi: 1900 6198

Một là, về các quy định của pháp luật về "nguyên tắc suy đoán vô tội".

Hiến pháp năm 2013, quy định: Người bị buộc tội được coi là không có tội cho đến khi được chứng minh theo trình tự luật định và có bản án kết tội của Tòa án đã có hiệu lực pháp luật” (khoản 1 Điều 13).

Cụ thể hóa quy định nêu trên của Hiến pháp, Bộ luật tố tụng Hình sự năm 2015 (BLTTHS 2015), quy định: “Người bị buộc tội được coi là không có tội cho đến khi được chứng minh theo trình tự, thủ tục do bộ luật này quy định và có bản án kết tội của tòa án đã có hiệu lực pháp luật. Khi không đủ và không thể làm sáng tỏ căn cứ để buộc tội, kết tội theo trình tự, thủ tục do bộ luật này quy định thì cơ quan, người có thẩm quyền tiến hành tố tụng phải kết luận người bị buộc tội không có tội” (Điều 13).

Hai là, về nội dung của nguyên tắc suy đoán vô tội được thể hiện tại BLTTHS 2015.

Nội dung của nguyên tắc suy đoán vô tội được thể hiện tại BLTTHS 2015 được thể hiện, như sau:

- Th
ứ nhất, không ai có thể bị coi là tội phạm khi chưa được chứng minh theo đúng các quy định của BLTTHS 2015 và chưa được xác định bằng bản án kết tội đã có hiệu lực pháp luật của Tòa án.

Người bị buộc tội chỉ có thể bị coi là có tội khi có bản án kết tội của Tòa án đã có hiệu lực pháp luật. Trong pháp luật hình sự, thuật ngữ “người bị buộc tội” dùng để chỉ người đã thực hiện hành vi được Bộ luật hình sự quy định là tội phạm, hành vi của người đó đã cấu thành tội phạm. Thuật ngữ “người bị buộc tội” chỉ một thực tế khách quan là một người đã thực hiện tội phạm chứ không phải tùy thuộc vào nhận định chủ quan của các cơ quan tiến hành tố tụng. Do vậy, thuật ngữ người “bị coi là có tội” khác với thuật ngữ “người bị buộc tội”.

Theo quy định nói trên thì một người dù có bị tạm giữ, bị khởi tố bị can, bị tạm giam, đã bị xét xử sơ thẩm và bản án đó chưa có hiệu lực pháp luật thì vẫn chưa phải là người có tội. Họ mới chỉ là người bị tình nghi, người đã có hành vi phạm tội. Khái niệm có hành vi phạm tội và có tội là hai khái niệm khác nhau. Thực tiễn cho thấy, nhận thức xã hội về điều này còn chưa đúng. Ngay cả người tiến hành tố tụng vẫn cho rằng, đã bị khởi tố bị can, đã bị tạm giam... là có tội, vì có tội nên mới bị cơ quan điều tra tạm giam và đối xử với họ như những người có tội.

- Thứ hai, trách nhiệm chứng minh tội phạm thuộc về các cơ quan điều tra, Viện kiểm sát; bị can, bị cáo có quyền nhưng không buộc phải chứng minh là mình vô tội.

Đồng nghĩa với việc tại phiên toà bị cáo có quyền im lặng tức là không có nghĩa vụ phải trả lời các câu hỏi của Hội đồng xét xử. BLTTHS 2015 tuy không quy định quyền im lặng của người bị bắt, bị tạm giam, của bị can, bị cáo thành một nguyên tắc riêng nhưng việc quy định “Người bị buộc tội được quyền không buộc phải đưa ra lời khai chống lại chính mình hoặc buộc phải nhận mình có tội” tại điểm d khoản 1 Điều 58; điểm c khoản 2 Điều 59; điểm d khoản 2 Điều 60 và điểm h khoản 2 Điều 61 BLTTHS 2015 đã mặc nhiên thừa nhận quyền im lặng của những người này.

Việc được quyền im lặng ngay từ khi bị bắt giữ ban đầu có ý nghĩa hết sức quan trọng trong việc bảo đảm cho nguyên tắc suy đoán vô tội được thi hành trong thực tế. Thời gian ban đầu khi bị bắt giữ, người bị tình nghi thường rất hoang mang, lo sợ cho thân phận của mình ... Họ rất dễ bị chi phối và có khi bị lệ thuộc bởi hoàn cảnh khách quan. Nhất là khi họ bị dụ cung, ép cung ... và thực tế cho thấy nhiều người đã buộc phải theo sự gợi ý của Điều tra viên để khai nhận những việc không xảy ra trong thực tế (Vụ ông Nguyễn Thanh Chấn ở Bắc Giang; ông Huỳnh Văn Nén ở Bình Thuận; ông Lương Ngọc Phi ở Thái Bình là điển hình). Việc tiếp xúc với luật sư ngay từ ban đầu sẽ làm cho người bị bắt giữ yên tâm, luật sư sẽ tư vấn cho họ về việc khai báo cũng như việc có mặt của luật sư sẽ hạn chế việc làm sai trái của điều tra viên (nếu có). Đảm bảo cho việc điều tra, truy tố, xét xử đúng người, đúng tội, đúng pháp luật, không làm oan người không phạm tội.

Để xác định một người đã thực hiện hành vi phạm tội, trên cơ sở đó truy cứu, áp dụng trách nhiệm hình sự, các cơ quan tiến hành tố tụng phải chứng minh được người bị buộc tội là người thực hiện hành vi phạm tội nào đó được quy định trong BLHS. Nếu không chứng minh được một người đã thực hiện tội phạm thì không thể kết tội người đó. Điều này đồng nghĩa với việc, nếu hoạt động tố tụng không chứng minh được người đó đã thực hiện tội phạm thì không thể truy cứu, kết tội họ. Chứng minh tội phạm là một quá trình diễn ra ở cả ba giai đoạn điều tra - truy tố - xét xử. Ba giai đoạn này độc lập nhưng lại có cơ chế giám sát, chế ước, bổ sung cho nhau nhằm bảo đảm việc kết tội được chính xác, không làm oan người không phạm tội. Từng chủ thể của giai đoạn tố tụng phải có nghĩa vụ chứng minh tội phạm ở giai đoạn của mình phụ trách và chịu trách nhiệm về việc chứng minh đó.

- Thứ ba, bản kết luận điều tra của cơ quan cảnh sát điều tra; cáo trạng của Viện kiểm sát và bản án kết tội của Tòa án phải dựa trên các chứng cứ khẳng định chắc chắn về hành vi khách quan, mối quan hệ nhân - quả, lỗi của người bị buộc tội trong việc thực hiện tội phạm cụ thể.

Nếu ở giai đoạn tố tụng nào (khởi tố, điều tra, truy tố, xét xử) mà không thể thu thập được chứng cứ chứng minh tội phạm, không thể kết luận được những nội dung chủ yếu được quy định tại Điều 85 BLTTHS 2015, thì nếu như ở giai đoạn điều tra còn thì không ra kết luận điều tra, nếu ở giai đoạn truy tố thì Viện kiểm sát không quyết định truy tố bằng bản cáo trạng, nếu ở giai đoạn xét xử thì Tòa án không kết tội bị cáo. Mọi nghi ngờ về lỗi của bị can, bị cáo nếu không thể loại trừ được theo trình tự, thủ tục do luật định và khi chưa có sự thống nhất trong việc giải thích, áp dụng các quy phạm pháp luật đều phải được giải quyết theo hướng có lợi cho họ.

Nguyên tắc suy đoán vô tội đòi hỏi sự buộc tội phải dựa trên những chứng cứ xác thực không còn nghi ngờ. Mọi sự nghi ngờ đối với người bị bắt, người bị tạm giữ, bị can, bị cáo đều phải được kiểm tra, chứng minh làm rõ. Nếu không chứng minh làm rõ được sự nghi ngờ thì sự nghi ngờ đối với người bị bắt, người bị tạm giữ, bị can, bị cáo phải được giải thích theo hướng có lợi cho họ. Tòa án phải hoàn toàn dựa trên cơ sở những chứng cứ được trình bày trước Tòa để đưa ra phán quyết. Trong các giai đoạn tố tụng thì giai đoạn xét xử vụ án có vị trí, vai trò đặc biệt quan trọng. Ở giai đoạn này tòa án sẽ tuyên bố một người nào đó bị truy tố có phạm tội hay không và phạm tội gì, hình phạt áp dụng ra sao? Theo quy định của BLTTHS thì trước khi kết án, phải qua việc điều tra công khai trước tòa. Đây thực sự là một cuộc đấu trí giữa bên kết tội và bên bào chữa. Cả hai bên, do nghĩa vụ mà luật tố tụng quy định đều phải thực hiện đầy đủ chức năng của mình. Kiểm sát viên khi trình bày lời buộc tội phải dẫn chứng đầy đủ các chứng cứ buộc tội, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và căn cứ vào từng khung, khoản của Điều luật trong BLTTHS để đề xuất mức hình phạt cần áp dụng.

Phía bào chữa - Luật sư cũng căn cứ vào kết quả điều tra công khai tại phiên tòa để tranh luận, đối đáp với Kiểm sát viên, có thể là chưa đủ bằng chứng buộc tội, hoặc chỉ phạm tội khác nhẹ hơn tội bị truy tố, các tình tiết tăng nặng được công tố viên đề nghị là không đúng, còn bỏ sót các tình tiết giảm nhẹ mà bị cáo được hưởng ...Thông qua việc tranh luận, phản biện của các bên, hội đồng xét xử sẽ xem xét và cân nhắc khi đưa ra bản án.

Nguyên tắc suy đoán vô tội đòi hỏi cơ quan buộc tội là cơ quan có nghĩa vụ chứng minh hành vi thực hiện tội phạm của người bị buộc tội theo triết lý đã tồn tại từ thời cổ xưa “ai đưa ra lời buộc tội thì người đó phải chứng minh”, nếu cơ quan tiến hành tố tụng không chứng minh được tội phạm của bị can, bị cáo thì đồng nghĩa với sự vô tội của họ và Tòa án phải tuyên bị cáo không có tội. Suy đoán vô tội được thừa nhận cho đến khi bản án kết tội của Tòa án có hiệu lực pháp luật. Nói một cách khác, chỉ có Tòa án là cơ quan duy nhất có quyền tuyên bị cáo là người có tội trong bản án kết tội của mình.

Khi không có đủ chứng cứ chứng minh được lỗi; hành vi thực hiện tội phạm của bị cáo hoặc đồng phạm (nếu có) như cáo trạng của Viện kiểm sát quy kết, thì phải xem là đồng nghĩa với sự vô tội của bị cáo đã được chứng minh và bản án, quyết định mà Hội đồng xét xử sơ thẩm phải được tuyên bị cáo không có tội và trả tự do ngay (nếu trước đó đã bị tạm giam) chứ không được chọn phương án “an toàn”; “Dĩ hòa di quý” trả hồ sơ điều tra bổ sung hoặc hủy án để điều tra, xét xử lại đối với Hội đồng xét xử phúc thẩm.

Luật gia Nguyễn Bích Phượng - Nhóm tư vấn pháp luật trực tuyến - Công ty Luật TNHH Everest,
tổng hợp

Khuyến nghị:
  1. Để có ý kiến tư vấn chính xác và cụ thể hơn, Quý vị vui lòng liên hệ với các Luật sư chuyên gia của Công ty Luật TNHH Everest qua Tổng đài tư vấn pháp luật 1900 6198, hoặc E-mail: [email protected]
  2. Nội dung bài tư viết "nguyên tắc suy đoán vô tội trong pháp luật tố tụng hình sự Việt nam" mà Công ty Luật TNHH Everest cung cấp, Quý vị chỉ nên xem như nguồn tài liệu tham khảo.
  3. Tại thời điểm quý Vị đọc bài viết này, các điều luật chúng tôi viện dẫn có thể đã hết hiệu lực, hoặc đã được sửa đổi, bổ sung; các thông tin trong tình huống là cá biệt. Do đó, chúng tôi không đảm bảo những thông tin này có thể áp dụng cho mọi trường hợp, mọi đối tượng, ở mọi thời điểm.